Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

VẾT KHẮC SÂU TRONG TIM!

- Mày phá bỏ cái thai đó ngay. Không thôi tao chết cho mày vừa lòng.
- Trời ơi! Mày bôi tro trát trấu vào mặt tao, mày làm hoen ố thanh danh dòng họ.
Tiếng ông Tư ngày càng to, ông không thể chấp nhận, gia đình danh giá như nhà ông mà lại có đứa con gái chửa hoang.
Trong làng này, ai gặp ông Tư cũng xuýt xoa thèm thuồng vì ông khéo nuôi dạy con. Mà con cái ông ngoan thiệt. Đứa lớn, đi tu vừa được lãnh nhận tác vụ Thầy Sáu. Na thì Đại Học năm cuối sắp ra trường. Bé út đang theo đuổi ơn gọi.
Ông Tư, bà Tư có vất vả cả đời cũng đáng lắm!
Nụ cười mấy hôm trước còn rạng ngời trên môi ông bà, khi con lãnh nhận sứ vụ mới. Người ta gọi ông bà bằng hai từ nghe nó hay làm sao: “Ông bà cố”. Niềm hạnh phúc ấy còn rơn rang trong lòng ông. Ông bà thấy yêu Chúa hơn vì Chúa đã thương đến gia đình ông bà, Chúa thương các con ông, nghèo khổ, thiếu thốn, nhưng chúng ngoan ngoãn. Các con là niềm kiêu hảnh của đời ông. Hàng ngày ông liên lỉ tạ ơn Chúa.
Đùng cái, tin con Na có chửa như sét đánh ngang tai ông. Như ai đang cào cấu, đập bầm dập trái tim ông. Nó đau, đau không thể chịu nỗi, làm ông không tự chủ được rên rỉ rồi hét toang lên, cơn đau hoành hành ông không còn nhận đâu ra là đúng là sai. Ông chỉ biết con Na bây giờ là nỗi sỉ nhục lớn của đời ông. Nó là tai họa, nó sắp phá hỏng cái tiếng thơm mà ông vun vén cả đời.
Na khóc, khóc nhiều lắm, bây giờ cô không biết mà cũng không dám nhìn mặt ba mẹ. Na chỉ xin ba mẹ tha thứ. Na đã ba lần đi đến bệnh viện, đứng trước phòng khám, rồi Na nghe như đứa nhỏ trong lòng Na van xin:
- Mẹ ơi đừng giết con.
- Mẹ ơi hãy để con sống.
Lần nào cũng thế, nên Na mới về nhà thú thật với mẹ. Xin Mẹ nói với ba để ba tha thứ cho Na.
Ba hét lên. Ba đòi giết Na. Ba kêu Na giết con. Ba đau khổ. Điều đó Na thấu hiểu, vì Na là con ba. Na cũng dằn vặt vì sinh linh bé nhỏ trong Na. Cũng đau đớn, như ba. Nhưng cái cách bộc lộ nỗi đau thì ba bùng phát mạnh lên, vì trong ba đang chờ đón niềm hạnh phúc Anh Hai sẽ bước lên bàn thánh, sẽ nhận lãnh thừa tác vụ linh mục. Gia đình sẽ được gắn kết hơn trong tình yêu Thiên Chúa. Tin ba đang chờ đợi là tin lành là hồng ân. Còn Na, khốn kiếp thật. Na mang về tin ác, tin dữ, sự dữ. Na là con người của ma quỉ, Na đang phá vỡ những tốt đẹp của một gia đình hạnh phúc.
Má không nói lời nào, nhưng Na biết má buồn lắm. Ba làm dữ quá má không biết phải tính sao. Chỉ ôm Na vào lòng nước mắt má rớt mặn trên môi Na.
Na lặng lẽ để lại lá thư tuyệt mệnh, rồi gieo mình xuống dòng sông. Na không muốn ba má đau khổ. Na cũng không muốn giết con, đứa bé vô tội. Đã ba lần Na định giết rồi còn gì? Nhưng Na không làm được. Thà Na chết chung với con…
….
Ông Tư!
Con chào Ông Cố Tư.
Ông Tư giật nảy mình mới nhận ra ông chủ tịch Hội đồng giáo xứ.
Đã lâu lắm rồi, kể từ ngày con ông làm linh mục, ông Tư dường như thay đổi, ông không còn nói cười nhiều như xưa nữa. Lắm lúc ông trầm ngâm trước thánh giá, rồi có những khi đang trưa ông hé nhẹ cửa nhà thờ lặng lẽ ngồi bên nhà tạm.
Bao nhiêu năm rồi ông không còn biết nữa?
Bà bỏ ông đi sau tai nạn.
Con Ông làm linh mục, làm nữ tu, ông không còn vất vả để chạy vạy lo lắng cho chúng nữa. Ông chỉ việc kinh kệ, hội đoàn, vui vẻ tuổi già, chẳng còn gì để ông bận tâm.
Thế mà trong đôi mắt ông vẫn đục màu đau khổ?
Ngày mai, con Ông lại được nhận bài sai đi làm Cha Sở ở xứ mới ở tuốt miệt Năm Căn. Ông chủ tịch đến rước ông để mai đi sớm. Những niềm vui, giờ nguội lạnh trong trái tim ông, có một vết thẹo mà lâu lâu nó tê tái trong lòng ngực. Vết khắc sâu trong tim, làm ông đau, ông không thể quên được, bao nhiêu lần gục đầu trước thánh giá xưng thú lỗi lầm, nhưng tâm trí, linh hồn ông vẫn bất an.
Chị ba đi dọn nhà thờ mai đón Ông Cố Sớ mới.
-À mai mày có rảnh đi rửa chén tiếp chị ba, chị ba phụ thêm cho hai mẹ con mấy lon gạo.
- Dạ!
Tiệc lớn, khách khứa tấp nập, nó lom khom, lọ mọ với khu bếp, chén bát. Cứ chưa ngơi tay đợt này thì tiếp đợt khác, người mệt lả. Chưa rảnh được tay để nhòm mặt ông cha mới. Mồ hôi nhể nhải, nhưng nghĩ tới chiều nay khi xong việc hủ gạo vơi lại được đầy, lòng mênh mang.
Khệ nệ cái rổ chén vừa mới rửa xong, nhóm dậy, định bước đi.
- Na, Na. . N……a.
- Giọng khàn khan, đục màu quen thuộc, làm Na giật bắn người.
Rỗ chén trong tay Na thỏng xuống, vuột khỏi tay. Mắt Na long lên vẻ thất kinh ngạc nhiên!
Ngoảnh mặt nhanh chân muốn chạy thoát cho xa. Nhưng cái giọng ồ ề, có sức mạnh kéo ngược Na lại. Rồi Na ôm chầm lấy ông Tư. – Ba…Ba…
Tiếng nấc nghẹn ngào.
                                                    (Ông và cháu /;hình ảnh minh hoạ từ Flick vn)

- Me ơi ông ngoại đó mẹ!
Con dẫn ông ngoại đi gặp mẹ đó.
Na tròn mắt nhìn bé Bi.
Rồi nhìn Ba.
Bác Hai, là ông bụt, cho tập cho đồ mới mà con kể với mẹ đó.
Bác Hai còn là Ông Cố mới hôm nay mừng đó mẹ.

… Lờ mờ trong đầu Na hình ảnh ngày xưa.
 Tim Ông Tư nhói lên, cái nhói đau dễ chịu làm sao??

-adgs trích GVVĐT Mã số: 14-081-

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Bình minh đêm


Đêm về khi mọi người đã ngủ

Con quì bên Ngài hát khúc yêu thương
Lạy Chúa, Ngài có nghe con hát trong âm thầm lặng lẽ
Cuộc đời này Ngài đã tặng con
Quá nhiều và quá sức con mong đợi
Con muốn cám ơn Ngài một chút
Vì suốt đời này có tán tạ không khen
Cũng chỉ là một chút thôi, Chúa nhỉ?





Con mong ước đời mình là khúc nhạc
Vang lên khúc yêu thương giữa cuộc đời buồn tủi
Hay ở giữa biển đời phiêu dạt biết về đâu
Con sẽ hát như Hải Đăng dẫn lối
Bến tàu này có những ước mơ
Hay như cánh diều những chiều lộng gió
Vượt nỗi nhọc nhằn và cả những thương đau
Bay lên cao để ngắm nhìn muôn điều kỳ vĩ
Chúa làm nên chỉ để cho con

Con sẽ vẽ thiên đường lộng lẫy
Bằng cọ tình yêu và sắc màu cuộc sống
Có chút gì mằn mặn chua cay trong khoảng tối
Một dải màu u uất vẽ màn đêm rộng lớn
Con pha thật nhiều hương vị yêu thương tha thứ
Điểm thêm vào khoảng tối mênh mông
Những vì sao đêm rực rỡ muôn màu
Rồi còn thật nhiều những điều kỳ diệu
Và tình yêu Ngài cho con như muốn nói
Kìa bức tranh này Ngài vẽ đã rất lâu
Ngài cho con một sắc màu kỳ diệu
Con vẽ rồi hạnh phúc sẽ hiện lên

Đêm sẽ tàn và con còn hát mãi
Dẫu đêm dài Ngài vẫn thức cùng con
Cuộc sống quanh con Ngài dõi bước
Giữa đêm trường có một người không ngủ
Đợi chờ con bên giấc mộng tình yêu.

-Martin-

CHỌN LỰA

Chiều nay, lòng thành phố lác đác mưa bay. Anh chọn một góc trong quán Yesterday, hướng mắt ra phía cửa sổ, ngắm nhìn dòng người ồn ào, tấp nập, bộn bề công việc, những lo toan cuộc sống, mỉm cười. Nâng cốc cà phê nóng trên tay, thỉnh thoảng anh ngước nhìn kim đồng đồ nhích từng vạch trên tường. Anh đang đợi! Có tiếng gọi quen thuộc, quay lưng lại, đón anh là một nụ cười má lúm ngày nào. Anh ngỡ ngàng vì cô thay đổi khá nhiều, nét tự tin ánh lên trong đôi mắt. Cô ngồi xuống đối diện với bàn của anh, ánh đèn vàng dễ chịu trong không gian góc quán nhỏ bé khiến nơi đây trở nên không đông đúc, không ồn ào nhưng ấm lạ như chính cảm giác cô đã từng có với anh. Nhanh thật! Mười năm rồi còn gì…

***
Họ biết nhau khi cô tham gia ca đoàn cùng nhỏ bạn thân, còn anh là một tập sinh về giúp xứ phụ trách tập hát cho ca viên. Với tính cách hoạt bát và một giọng hát được mệnh danh “cây văn nghệ” của khoa, cô dễ dàng chiếm được cảm tình của tất cả anh chị em ca viên, mặc dù cô không theo Đạo. Anh cũng bắt đầu chú ý đến cô qua những lần hát solo cùng nhau, hay những lần anh ôm đàn guitar sinh hoạt giới trẻ, cô lí lắc với má lúm đồng tiền trêu anh đi tu dòng SVD nghĩa là (“Sợ vợ đánh” hay “Sướng về đêm???). Cô trong trẻo và sinh động khi kể anh nghe những câu chuyện trên đời dưới đất của cô và lũ bạn” nghịch như quỷ sứ”. Cô như một đứa trẻ chẳng biết giấu diếm cảm xúc, chợt vui, chợt buồn, nhanh hờn giận mà cũng mau quên. Cô là một bản nhạc sôi nổi giữa cuộc sống vốn bình lặng của anh, chiếm trọn lòng anh lúc nào không hay. Riêng cô không biết mình chú ý đến anh từ bao giờ, có lẽ là những buổi tối nghe anh giải thích những điều thắc mắc về Đạo. Cô có hàng trăm câu hỏi”Tại sao” và mỗi khi hỏi thì muốn biết đến cùng. Hoặc những lúc anh tâm sự về thời sinh viên, về khoảng thời gian anh ở nhà tập….
Đêm giáng sinh, cô đứng cạnh anh ngắm nhìn hang đá. Bỗng anh dúi vào tay cô một tập nhạc, kèm một kẹp sách có hình thiên thần, ngập ngừng:” Em hãy giống như một thiên sứ, đem tiếng ca để làm đẹp lòng Chúa nhé!”. Cô run run nhận lấy, lí nhí đáp: “Dạ”. Chợt nhớ ra, cô hỏi:” Lúc nãy trong nhà thờ, anh cầu nguyện với Chúa điều gì mà chăm chú thế?”. Anh mỉm cười” Anh xin Chúa cho thế giới này bớt đi chiến tranh, trẻ em nơi các nước nghèo có được cơm ăn, được tình yêu thương của ba mẹ. Anh xin cho người dân xứ này biết đến Chúa nhiều hơn. Anh xin Chúa ban sức khỏe cho gia đình, Cha xứ, và…cả em nữa. Thế còn em?” – Cô cúi đầu, cắn cắn môi “ Em…chỉ xin Chúa một điều. Cho em được mãi bên anh. ”.
Thời gian như ngưng đọng. 1 giây, 2 giây, 3 giây… Cô can đảm ngẩng đầu lên, chợt bắt gặp bóng dáng mình thật nhỏ bé trong biển ấm áp của ánh mắt anh. Ngay lúc ấy, dường như tim họ đã lỗi nhịp, và lỗi cùng một nhịp.
***
1h đêm, mọi thứ xung quanh im ắng, ánh đèn đường leo lắt bên khung cửa sổ rọi ánh sáng yếu ớt vào căn phòng đầy bóng tối. Cô gác cằm lên đôi tay tỳ lên quyển sách “Tiếng chim hót trong bụi mận gai”. Cô đã đọc đi đọc lại câu chuyện của Mecghi và Cha Palph nhiều lần. Mắt cô nhìn đau đáu vào khoảng không lờ mờ sáng trước mặt, những vệt buồn còn đậm dấu vết trên khuôn mặt. Cô nhắm mắt và nén một tiếng thở dài: “Nhưng cái thứ tình đó là tội lỗi sao?”.
Thời gian dần trôi, cũng đến lúc anh sắp rời giáo xứ. Anh chợt nhận ra, hình bóng cô đã gần như theo anh mỗi ngày. Anh yêu cô, và anh biết cô cũng yêu anh. Rời xa cô anh sẽ rất đau khổ. Thế nhưng“Ơn gọi” thì sao? Anh đến nhà nguyện mỗi đêm, một mình lặng lẽ nhìn lên cây Thập giá, bao lần anh hỏi Chúa “Con phải làm gì đây?”. Chúa vẫn mãi lặng thinh.
Một buổi sáng, anh cùng cha xứ đến một giáo họ nghèo của vùng miền Tây sông nước. Đón hai người từ xa là một cha già đang chống gậy ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”. Qua cuộc tiếp xúc thân tình, cha vỗ vai anh và nói “Tôi đã mất sáu năm tù cải tạo, rồi còn cả hơn chục năm học làm cha giáo, đóng góp cho Giáo hội còn ít lắm. Đức Cha bảo tôi còn “Nợ Chúa”, phải trả cho hết mới được nghỉ hưu. Các thầy còn trẻ, còn sức lực, còn nhiệt huyết thì hãy hiến dâng hết mình cho Chúa, thời nay còn rất nhiều nơi, nhiều người cần các thầy tưới mát tâm hồn họ bằng Tin Mừng. “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít”.
Nói rồi cha dẫn anh đến một mái nhà tranh gần đấy. Bước vào anh thấy giữa nhà là một bàn gỗ con con, một cây thánh giá nhỏ bé đơn độc, hai bên là tượng Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse cũng ngả màu theo thời gian. Có lẽ mọi thứ có từ rất lâu, chưa được thay mới. Cha giới thiệu đây là “Nhà thờ”, giọng nói đầy tự hào: “Người dân ở đây có một niềm tin thật mãnh liệt, lúc Cha mới đến chỉ có vài người theo đạo thôi, nhưng giờ đã là vài chục, rồi vài trăm. Mỗi lễ chủ nhật họ phải đi xa hàng chục cây số, có khi chèo thuyền một chặng xa để mong được nghe lời Chúa. Vậy mà có những người chẳng bỏ một buổi lễ nào. Có em còn ước mơ sau này làm Cha, để trở về giúp xứ quê mình. ”
Từng câu từng chữ của Cha khiến anh như chợt tỉnh giữa cơn mê. Phải rồi, anh đã nuôi dưỡng niềm tin “Ơn gọi” từ ngày bé, ước mơ và mục đích sống của đời anh là đem Chúa và đem yêu thương đến cho người nghèo khó. Cảm tạ Chúa! Anh đã biết mình phải chọn điều gì.

***
Cô lặng lẽ xúc từng thìa kem…chiếc thìa bé xíu cứ cần mẫn đưa lên đưa xuống. Cô ăn như thể nuốt đầy lồng ngực sự lạnh giá.
Anh chấp nhận tình yêu của em, vì nó không có tội, nhưng anh không thể đón nhận riêng em vì cuộc sống anh chỉ ý nghĩa khi giành trọn cho Chúa và cho tha nhân.
Cô ngẩng đầu nhìn anh. Giờ anh mới phát hiện có giọt nước nhỏ đọng lại trên mi cô…
Đạo anh dạy mến Chúa, yêu người. Yêu em, anh cũng sống đúng lời Chúa vậy. Nếu muốn, em và anh sẽ cùng giúp đỡ những người nghèo khó.
Anh không thể ích kỷ giữ em bên mình, bởi lẽ anh biết rằng ngoài kia còn có rất nhiều người cần đến anh hơn em. Anh sẽ luôn cầu nguyện để em gặp một người mà con tim chỉ dành trọn cho em.
Chúa của anh mạnh quá! Đến ngay cả Mecghi bắt đầu hoài thai bằng tình yêu thơ ngây trong sáng của cô bé con, rồi trăn trở lớn lên thành sự khao khát chiếm hữu của người đàn bà với Cha Ralph mà nàng còn không chiến thắng. Có phải nàng và em giống nhau, đã yêu một người không – được – phép – yêu, một người ở thế giới khác, thế giới chỉ có tình yêu quảng đại cho Chúa, Thánh thần và tồn tại những con chiên ngoan đạo nên giờ đây phải chấp nhận hình phạt đau khổ?
Chúa cho anh lựa chọn, cũng cho em tự do lựa chọn. Em chọn anh, anh chọn Chúa. Tình yêu không có sự trừng phạt. Anh là người, không phải gỗ đá, rung động trước em là lẽ tự nhiên. Có chăng anh chọn lựa một tình yêu khác, không phải tình yêu nam nữ mà thôi. Mecghi tuy đau khổ nhưng nàng hạnh phúc với lựa chọn yêu đến cùng.
Nếu sau này anh không thể làm Cha thì sao? Hoặc đến cuối đời anh sẽ hối hận giống như Cha Ralph, phải đối mặt với nỗi cô đơn suốt cuộc đời, cô đơn khi đối diện với bản ngã của mình, cái kết cục cô đơn vì không đủ can đảm vượt thoát xa hơn.
Chính ta đã xếp đặt số phận của ta như thế, ta không đổ lỗi cho ai và ta cũng không hề tiếc nuối về một phút giây nào trong quá khứ, em ạ…”.
Cô bất lực, lao ra ngoài quán cà phê, bỏ lại đằng sau tiếng gọi của anh. Cô phóng xe thật nhanh và biết rằng anh không thể đuổi theo như hai người yêu nhau bình thường khi giận dỗi chia tay. Mưa. Lạnh. Những giọt mưa nhỏ sao có vị mặn như nước mắt của cô.
“Đau khổ nhất là khi người ta có thể nhìn thấy nhau, biết mình cần nhau, mà phải lẳng lặng chôn vùi yêu thương vì những duyên cớ số phận sắp đặt an bài”
***
Một thời gian sau, Nam xuất hiện. Vị trí ca trưởng của anh được thay thế bởi Nam. Cô và Nam bắt đầu những giờ tập hát chung, những lần sinh hoạt giới trẻ hay có khi là những lần cô đến nhà Nam mượn những tập tài liệu (Cô và Nam cùng học chuyên ngành của một trường trong Sài Gòn). Dần dần, cuộc sống bình dị của cô có thêm một người- ngoài anh. Nam cứ lặng lẽ đi bên đời cô, êm ái xoa diu những vết thương của cô. Thế nhưng… cô nhận ra hình bóng anh đang cười hiền lành, hay lúc anh trầm tĩnh lướt trên từng dây đàn, giọng nói cương nghị, đầy ấm áp …qua Nam. Cô run rẩy tiếp xúc với Nam trong nỗi nhớ về anh, cô đón nhận Nam bên cạnh như một ảo tưởng “Anh vẫn bên cô”.
“Mecghi vì cố quên Cha mà đành kết hôn với người đàn ông khác – người đàn ông giống Ralph đến lạ lùng. Mecghi nuôi dưỡng tình yêu với Cha Ralph qua hình bóng của Luke, để cuối cùng với sự cố chấp cho tình yêu duy nhất đó, Megghi đã phải đón nhận bi kịch đời mình. ” Cô sợ Nam là cái bóng của anh, nhưng cô quá yếu đuối để rời xa Nam cũng như cô không thể mở cửa trái tim mình. Biết rằng nếu yêu Nam, cô sẽ hạnh phúc, nhưng trái tim bướng bỉnh của cô không đập chung nhịp với trái tim Nam. Cô cần Nam trong cuộc đời. Nếu vắng Nam, giống như căn nhà thiếu mất cánh cửa, mùa đông gió lùa, chắc cô sẽ lạnh lắm. Nhưng ngàn lần không phải là tình yêu. Ngày Nam ngỏ lời với cô, đáp lại chỉ là “Em cần môt tình bạn hơn là một tình yêu”.
Đêm ấy, cô đã khóc nức nở, khóc dữ dội như ngày anh rời xa cô. Khi vết thương trong trái tim cô còn chưa lên da non, thì chính cô đã lại mang đến cho một người rất mực yêu cô một vết thương sâu hoắm.
Thế là từ đó chấm dứt những ngày tháng vô tư giữa Nam và cô, chấm dứt những cuộc điện thoại thâu đêm và cả hàng trăm tin nhắn mỗi ngày…Họ tiếp tục những câu chuyện bất tận về cuộc sống, nhưng hình như nó bối rối, không còn vô tư, hình như không còn sôi nổi.
Và họ dừng lại. Dừng lại một tình yêu dở dang và một tình bạn không trọn vẹn.
Cô xin rút khỏi ca đoàn vì lý do bận học thêm một khóa ngoại ngữ vào các buổi tối. Một tháng, hai tháng, ba tháng…trôi qua, cô quay cuồng với việc học, với niềm vui từ bạn bè để lấp đầy chỗ trống trong tâm hồn. Chiếc điện thoại của cô đã lâu lắm rồi không có một tin nhắn từ Nam. Cô tự nhủ “Thời gian sẽ giúp trái tim anh có thể trở về với nhịp đập bình yên”. Thế nhưng, cô bỗng giật mình nhận ra. Cô mong Nam hơn cả anh, cô nhớ những kỷ niệm ngọt ngào của hai người hơn những lúc anh và cô bên nhau. Cô đọc đi đọc lại hàng trăm lần những tin nhắn cũ anh gửi cho cô. Chỉ cần nghe nhỏ bạn nhắc về Nam cũng khiến trái tim cô run rẩy. Cô cảm thấy thật khổ tâm khi quyết định rời xa Nam.
Tình yêu bắt đầu bằng nỗi nhớ, cô tin là vậy. Nhưng tại sao nỗi nhớ của cô không thể là tình yêu?
Mùa Chay Thánh, cô theo chân nhỏ bạn đến nhà Thờ. Cũng đã hơn một năm kể từ ngày anh ra đi. Ngắm nhìn cây Thánh Giá trong lúc chầu, cô thầm nghĩ: “Người được treo trên ấy cũng đã kiên quyết lựa chọn một tình yêu, đến nỗi bị đóng đinh và chịu chết. Yêu “tha nhân” là gì có thể khiến cho Đấng Tối Cao đó phải từ bỏ tất cả quyền uy, hạnh phúc cá nhân mà nhận lấy đau khổ? Yêu “tha nhân” quan trọng đến nỗi khiến anh từ bỏ “tình yêu với cô” để đi phục vụ sao?”. Thế rồi, cô nghe Cha giảng: “ Thiên Chúa đã dùng cái chết để cứu chuộc con người, Ngài hy sinh mạng sống mình cho nhân loại luôn hạnh phúc, bình an”. Anh cũng từng nói “Yêu em, chỉ có hai ta được hạnh phúc, nhưng rời xa em sẽ có người thứ ba có được tình yêu từ em, và nhiều người khác có được sự giúp đỡ của anh”. Cô nhận ra “Tình yêu đôi khi đơn giản chỉ là học cách từ bỏ”!
Trong không gian nhuộm đầy sắc tím bỗng dưng cô thấy lòng nhẹ nhàng lạ.
Tối hôm ấy, cô nhận được một cuộc gọi từ giọng nói mà cô không thể quên. “Anh đang ở dưới nhà, có thể gặp anh một lát được không?”. Cô vội vã chạy xuống như sợ chỉ cần chậm một phút thôi thì Nam sẽ rời đi. Cô nhận ra bóng lưng quen thuộc trong mơ hằng đêm. Nam đột nhiên quay lại làm cô đứng chết chân còn tim thì đập loạn xạ trong ngực. Nam bước đến, ôm chầm lấy cô, hơi ấm quen thuộc khiến bao cảm xúc trong cô vỡ òa. “Anh nhớ em lắm!”
Cô nhìn thẳng vào mắt Nam, trong ánh sáng không rõ của ngọn đèn đường từ xa hắt lại, cô thấy mắt Nam như có nước “Em có sự lựa chọn là quên anh, nhưng anh cũng có sự lựa chọn riêng mình. Anh chọn yêu em và bên em suốt cuộc đời”.
Cô gục đầu vào vai Nam, khóc nức nở. Phải rồi, trái tim cô cũng đang giá lạnh, và khao khát được sưởi ấm. Tại sao cô phải lựa chọn từ bỏ hơi ấm này chứ!
“Truyền thuyết về con chim chỉ hót một lần trong đời, nhưng hót hay nhất thế gian. . . Có lần nó rời tổ bay đi tìm bụi mận gai và tìm cho được mới thôi. Giữa đám cành gai góc, nó cất tiếng hát bài ca của mình và lao ngực vào chiếc gai dài nhất, nhọn nhất. Vượt lên trên nỗi đau khôn tả, nó vừa hót vừa lịm dần đi, và tiếng ca ấy đáng cho sơn ca và họa mi phải ghen tị. Bài ca duy nhất có một không hai, bài ca phải đánh đổi bằng tính mạng mới có được. Nhưng cả thế gian lặng đi lắng nghe, và thượng đế cũng mỉm cười. Bởi vì, tất cả những gì tốt đẹp nhất chỉ có được khi ta chịu trả giá bằng nỗi đau khổ vĩ đại. . . Ít ra là truyền thuyết nói như vậy”.
Có một câu chuyện mà người viết được nghe kể lại rằng “Khi con chim cất tiếng hót đầu tiên, một con chim đồng loại theo tiếng hót ấy tìm đến bụi mận gai. Chú ta cố gắng mổ gãy những cành gai góc xung quanh, bay đến bên cạnh chú chim đang hót. Giờ đây, giữa cánh đồng mênh mông, ta nghe không còn là tiếng hót đơn độc, tha thiết mà là một tiếng hót có trầm, có bổng, với giai điệu du dương, đi sâu vào lòng người”.
***
Có tiếng trẻ con gọi: ”Mẹ ơi, hôm nay Su chơi banh lắc thắng cả ba đấy”
Cô yêu thương kéo bé vào lòng “Chào Cha đi con!”. Giữa khuôn mặt bầu bĩnh, anh nhận ra một đôi mắt sáng trong veo ngày nào. Xa xa ngoài cửa, có bóng dáng của một người mà ánh mắt ấy tràn ngập ấm áp và tình yêu giành cho cô. Có lẽ đến giờ phút này, họ đều hạnh phúc với sự lựa chọn của chính mình!

-adgs trích Giải Viết Văn Đường Trường, bản tin 07-

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Đời sống linh mục là một đời sống khó khăn

Thưa những anh em của tôi trong đời sống linh mục, đời sống của chúng ta không phải là một đời sống dễ dàng. Một số người đã chọn cho mình đời sống trong những đan viện khắc khổ có lẽ không lạ gì khi mình đang có một đời sống khó khăn vất vả. Bất cứ ai quen thuộc với đời sống của một đan sĩ Xitô hay một ẩn sĩ dòng Thánh Brunô hẳn biết rằng các vị này cam kết sống một đời sống từ bỏ và đền tội mà tu luật của họ đề ra. Khi nhìn thoáng qua, dường như đời sống của một linh mục đang làm việc mục vụ có vẻ dễ dàng hơn. Vì có tiền trong túi (có thể là không nhiều), xem ra chúng ta cũng tự do, và đời sống chúng ta coi như chẳng phải quá khắc khổ hay quá khắc nghiệt. Rồi một lúc nào đó bỗng có những giáo dân đến hỏi nhiều người linh mục chúng ta rằng: “Dạ thưa cha, cứ sáng cha làm lễ xong rồi cả ngày cha làm gì vậy?”. Điều ngụ ý ở đây là một khi đã làm lễ xong chúng ta chẳng còn gì phải làm nữa, và điều này có thể chẳng có gì là quá xa vời so với sự thật.

(ảnh minh hoạ : Linh mục Nguyễn Sang, Gp Mỹ Tho)
Đời sống linh mục là một đời sống khó khăn. Mỉa mai thay, chúng ta đã có thể có nhiều ơn gọi linh mục hơn nữa nếu như những người trẻ của chúng ta nhận thấy đời sống của chúng ta thật sự là một đời sống không dễ dàng. Rất nhiều những bạn trẻ quảng đại muốn cam kết cuộc sống của họ trong một đời sống đầy thách đố, nhưng đem lại một ý nghĩa cao đẹp nhất định nào đó. Có lẽ đây là một trong những lý do tại sao gần đây những nhóm tu hành khó khăn hơn và truyền thống hơn lại gia tăng ơn gọi rất nhiều. Người trẻ ao ước một đời sống mang ý nghĩa và đầy thách thức. Đời sống linh mục, nếu sống với sự chân thật, chính là một đời sống như thế.

Một trong những điều khó khăn cho những linh mục đang sống trong giai đoạn hoàn toàn cho công tác mục vụ của mình đó là sự khổ chế về thời gian. Thời gian của chúng ta không còn là của riêng chúng ta nữa. Một cha xứ hay một cha tuyên uý gần như luôn sống trong tình trạng sẵn sàng và khẩn cấp ngày cũng như đêm. Người ta sẽ thật sự kêu đến chúng ta bất cứ khi nào. Người cha hay người mẹ có đứa con vừa qua đời sẽ kêu ngay đến vị linh mục. Những em nhỏ trong bệnh viện đang đau buồn nhìn cha mẹ của mình quằn quại trên giường bệnh sẽ chạy tới vị linh mục và mong chờ được ngài tới viếng thăm. Những người cô đơn và gặp rắc rối sẽ tìm đến chúng ta để mong được sự thông cảm và an ủi. Tất cả những nhu cầu như thế này không bao giờ chỉ đơn giản gói gọn trong một thời khoá biểu cố định của chúng ta từ 9 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Rất nhiều khi chúng ta rơi vào cảm giác là “chúng ta không có một cuộc sống riêng của chính mình”. Như thế, điều tôi muốn nói ở đây là thật sự chúng ta không có nhiều thời gian và không gian cho chính mình nữa. Điều này là rất thật, từ bỏ việc làm chủ thời gian của chính mình là một điều hy sinh hết sức lớn lao, tuy nhiên, ngay cả một vị ẩn tu, người cam kết sống một cuộc sống yên ổn trong đan viện cũng mất đi quyền kiểm soát chính thời gian và không gian của mình.

Sự đòi hỏi về thời gian và sức lực của chúng ta thật tàn nhẫn, và đôi lúc trở nên quá sức chịu đựng. Mỗi gia đình trong xứ đạo đều có câu chuyện đời sống riêng của họ. Mỗi cá nhân đều có những giây phút cảm nghiệm niềm hạnh phúc và sự đau khổ của riêng mình. Nếu chúng ta càng dành nhiều thời gian cho việc mục vụ của chúng ta, cơ hội chúng ta tiến sâu vào câu chuyện đời sống của giáo dân chúng ta càng nhiều. Rất nhiều người kêu mời linh mục chia sẻ với họ trong nhiều cách thế nhỏ bé khác nhau, ví dụ như đơn giản lắng nghe những tin tức của họ bên ngoài những cánh cửa nhà thờ sau mỗi thánh lễ Chúa Nhật, và cũng có khi trong những việc lớn lao hơn như cùng đồng hành với gia đình họ trong hành trình sống. Chia sẻ cuộc sống với những người chúng ta được sai tới phục vụ là một trong những niềm vui lớn lao nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những gánh nặng ghê gớm nhất. Nếu vị linh mục là người thật sự có tâm hồn chăm lo cho giáo dân, ngài sẽ thật sự cảm thấy đau buồn với những mất mát mà giáo dân mình đang phải chịu, đồng thời ngài cũng cảm thấy vui mừng khi giáo dân của mình sống trong những phút giây của niềm vui và hạnh phúc.

Đời sống chúng ta là một đời sống mang đậm nét tình cảm phong phú và mãnh liệt, nhưng nó cũng có thể là một đời sống cạn kiệt khô cằn. Người ta sẽ không kêu mời chúng ta khi mọi sự đang diễn ra một cách tốt đẹp, mà họ cần đến chúng ta khi họ gặp sự rắc rối hay thảm hoạ, hay họ cũng sẽ liên hệ với chúng ta khi họ gặp những niềm vui lớn ví dụ như là một người nào đó sắp sửa lập gia đình, hay họ tổ chức thôi nôi cho con cái. Chẳng lạ lẫm gì đối với một cha xứ vừa mới cử hành thánh lễ an táng xong thì lại chạy đi ngay tới một nơi khác để làm lễ và chứng hôn cho đôi bạn trẻ, và ngay sau đó là tiệc đám cưới hoành tráng và vui tươi. Linh mục sống đời mục vụ luôn sống trong sự căng thẳng của nó.

Trong đời sống linh mục, chúng ta luôn được cảnh báo về sự giới hạn của chúng ta so với những nhu cầu của con người như dòng thác lũ vây quanh chúng ta. Đơn giản là chúng ta không thể nào có thể đáp ứng lại toàn bộ tất cả những nhu cầu đó, cũng như tất cả các đòi hỏi hợp lý khác. Những nghiên cứu thống kê đưa ra kết qủa chắc chắn là các linh mục luôn phải vật lộn với đủ mọi công việc. Vấn đề đứng thứ hai và thứ ba mà vào năm 2001 hầu hết các linh mục đều chứng thực trong một khảo cứu được tài trợ bởi hội đồng quản trị của Liên đoàn các Linh mục của Hoa Kỳ đã nêu lên đó là “quá nhiều công việc” và “quá nhiều đòi hỏi và mong đợi không thực tế của giáo dân”. Việc mục vụ luôn là hố sâu không đáy, và cái hố sâu không đáy này hầu như đã được tiên đoán bởi sự sút giảm con số các linh mục nơi các quốc gia thịnh vượng mà số giáo dân đang gia tăng. Chính tôi đã thực hiện một khảo cứu trên 1.172 linh mục trong 15 giáo phận của các vùng khác nhau ở Hoa Kỳ từ tháng 9-2003 tới tháng 5-2005, khảo cứu này cho thấy trên 42,9% các linh mục được hỏi đồng ý với câu nói này: “Tôi cảm thấy có quá nhiều công việc phải làm”.

Chấp nhận những giới hạn của chúng ta cũng là một loại khó khăn mà chúng ta nên lưu ý, bởi lẽ chúng ta không thể đáp ứng cho tất cả mọi thứ vì công việc mục vụ, vì nó là một cái hố không đáy mà. Chúng ta là những linh mục thường muốn người ta nghĩ về mình như là những người dễ mến và như thế cố tỏ ra vui vẻ để luôn trả lời sẵn sàng với mọi người, và thật khó khăn để có thể từ chối hay là không đáp lại những nhu cầu hợp lý của mọi người khi chúng ta không có thời gian. Nó thật là một điều khó để có thể trả lời không với người khác, mỗi ngày vị linh mục luôn phải đối mặt với sự chọn lựa để quyết định những nhu cầu nào ngài có thể đáp ứng và những nhu cầu nào ngài phải chối từ. Thẳng thắn mà nói, một số linh mục đã không có những quyết định đúng đắn và cũng có rất nhiều vị lại khuếch trương một cách quá độ. Đây là một vấn đề mà mỗi linh mục và mọi linh mục phải đối diện, vì thế các linh mục cần sự nâng đõ để xác định những giới hạn hợp lý của mình.

Tôi nhớ đến một linh mục ở Nam Mỹ đến thăm một xứ đạo ở Hoa Kỳ, ông ấy quá sốc khi thấy một linh mục ở Hoa Kỳ tham dự quá nhiều những dịp khác nhau như là đám cưới hay đám rửa tội, ông ta nhận xét: “Ở tỉnh lỵ của tôi, một linh mục phải chăm sóc tới 50.000 giáo dân, tôi không thể tham dự những dịp như thế này, tôi chỉ có thể tham dự những dịp trọng đại khi cả cộng đoàn đều có mặt trong các ngày đại lễ”. Có lẽ chúng ta cũng nên học hỏi từ các anh em linh mục của chúng ta ở các nước khác, chúng ta phải đặt lại vấn đề xem những biến cố nào chúng ta cần có mặt và những biến cố nào chúng ta không nên có.

Một việc khổ chế khác nữa mà một linh mục đang làm việc mục vụ phải đối mặt đó là sự cô đơn mang tính độc đáo của mình. Linh mục là một người sống giữa mọi người, cũng giống như họ chúng ta là những con người và là những Kitô hữu, vì thế, chúng ta cùng nhau chia sẻ điều gì đó là chung với nhau. Nhưng chúng ta cũng là các linh mục, với chức thánh chúng ta lại được tách riêng ra, vị linh mục là người hướng dẫn thiêng liêng của mọi người, ngài đồng thời là một người trong họ nhưng trong khi đó và một cách nào đó ngài lại không phải là họ. Việc mặc áo giáo sĩ là một dấu chỉ rõ ràng là chúng ta mang lấy trên mình cái ách khác biệt này, rất nhiều khi, là linh mục chúng ta phải chấp nhận sự cô đơn mang tính độc đáo của chúng ta.

Chúng ta là những linh mục, điều quan trọng là chúng ta nên có những bạn linh mục. Bởi lẽ khi chúng ta cùng chia sẻ với các bạn linh mục khác, và luôn luôn gắn bó với gia đình của chúng ta, chúng ta mới thật sự và trọn vẹn là chính mình, vì đó thật là một phúc lành khi có những phút giây mà chúng ta quên đi những gánh nặng và ở bên những người thân yêu của mình, và được những người thân yêu kêu mình bằng những cái tên cúng cơm mà không có chút gì là mưu mẹo hay khó xử. Tôi cảm thấy thật là một hồi chuông báo động khi biết rằng có một vài linh mục không thích các linh mục khác, và những linh mục này cũng không cảm thấy thích thú gì khi có dịp quy tụ với nhau, đây là điềm báo trước không mấy tốt lành cho những linh mục đó.

Một điều khổ chế khác nữa mà các linh mục phải đối diện đó chính là đời sống độc thân của họ. Đời sống độc thân của các linh mục mang một sắc thái đặc biệt khi các ngài sống giữa dân chúng. Một số người nêu lên ý kiến cho rằng độc thân chỉ phù hợp với đời sống thánh hiến, bởi vì những người sống trong đời sống thánh hiến được nâng đỡ một cách đặc biệt trong các cộng đoàn mình sống, trong khi đó một linh mục trong đời mục vụ sống trong nhà xứ không có được sự nâng đỡ này. Thêm nữa, ngài phải sống giữa những người không cùng cách sống với mình, không hiểu mình và lại không ủng hộ mình nữa. Điều này đặc biệt làm cho vị linh mục cảm thấy cô đơn và bị thách đố liên tục.

Tuy nhiên, sống giữa mọi người như thế càng làm rõ ràng thêm chứng từ của chúng ta cam kết với Thiên Chúa. Đặc biệt trong thời đại bị ảnh hưởng sâu sắc bởi nền văn hoá tôn thờ dục vọng, vật chất, và bản thân, chứng tá của đời sống hoàn toàn dấn thân như thế này lại càng cần thiết hơn nữa. Linh mục sống đời độc thân là chứng tá sống động cho sự hiện diện của Thiên Chúa ngay tại trần gian này và là nguồn ân sủng dồi dào cho cả cộng đoàn cũng như chính vị linh mục. Tuy nhiên, đây là một đời sống khó khăn.

Ở xã hội Phương Tây hiện đại người ta cho rằng, điều đúng đắn của cuộc sống phụ thuộc vào sự thoải mái và địa vị xã hội. Bởi đó, chẳng phải ngẫu nhiên gì cả mà đời sống dấn thân và từ bỏ chính mình như thế đều bị coi là không thực tế và chẳng hấp dẫn gì cho nhiều người. Sống trong xã hội đã nhiều năm bị ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ như thế, con người ngày nay bị mê hoặc và tin tưởng rằng sự thoải mái của cuộc sống họ được đem lại nhờ vào quảng cáo và thương mại. Thế rồi, khi đau khổ ập tới, sự đau khổ mà chẳng ai có thể tránh được, hay khi cuộc sống của họ không đạt tới mức như tiêu chuẩn vật chất và quảng cáo bày ra, lúc đó trong thâm tâm người ta cảm thấy bị tổn thương và la toáng lên rằng: “Lỗi tại ai? Tôi phải trách mắng ai đây? Hay tôi phải kiện người nào đây?”

Chúng ta thật đã quên đi lời đã dạy trong sách Sáng Thế rằng con người chúng ta đã bị chúc dữ và phải đổ mồ hôi sôi nước mắt để nuôi thân: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc thật nhiều lúc sinh con... Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn” (Ga 3,16.19). Buồn sầu và đau khổ chính là định mệnh của mọi người không trừ ai, kể cả những ai đang sống trong những quốc gia giàu có. Điều đó cũng đúng với đời sống linh mục. Rất nhiều lúc các linh mục gặp sự buồn phiền đau khổ, các ngài cảm thấy hoài nghi về ơn gọi của mình, và các ngài cũng nghi ngờ phải chăng mình đã không là những những linh mục tốt. Lúc đó các ngài tự hỏi rằng: “Phải chăng tôi đã làm điều gì sai trái?” Phải chăng sự đau khổ tôi đang phải chịu là dấu chỉ chắc chắn là tôi đã làm điều gì tội lỗi trước đó rồi? Không phải vậy. Đau khổ là phần tất yếu của mọi con người: dù là người sống trong cuộc sống gia đình, người độc thân, hay người dâng hiến. Mọi câu hỏi được đặt ra về ơn gọi của chúng ta đều có thể là lời mời gọi chúng ta đi sâu hơn nữa vào chính cuộc sống dâng hiến cũng như sự cam kết dấn thân của chúng ta với Chúa. Trên hết mọi sự, tất cả linh mục chúng ta phải tìm thấy niềm an ủi và sức mạnh nơi chính mẫu gương của Chúa Giêsu, người là tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa.

Xã hội chúng ta đã trở nên thân thuộc với sự sở hữu và với những khái niệm sai lạc, nó luôn đề cao chức vị và tôn thờ bản thân. Chính ở trong bối cảnh xã hội như thế, đời sống linh mục lại mang lấy một dấu chỉ của sự đối nghịch, ngài là người sống trong thế giới nhưng lại không thuộc về thế giới. Được thấm nhuần tinh thần và ân sủng của Tin Mừng, người linh mục sống giữa thế gian nhưng không bị những đam mê trần tục làm nhạt đi tính chất muối cho trần gian của mình (x. Mt 5,13). Nếu như một linh mục đã thực sự đam mê có được mọi thứ máy móc tối tân, ưa thích một cuộc sống xa hoa và thoải mái sang trọng, chúng ta cần phải dừng lại liên tục để quan sát xem chúng ta đang sống như thế nào, và nếu cần đôi khi chúng ta cũng phải nhờ tới vị linh hướng hay là chạy tới những chuyên gia để giúp chúng ta biện phân về cách sống của mình phải chăng chúng ta vẫn luôn là chứng nhân cho Tin Mừng.

Việc sống trong thế giới nhưng không thuộc về thế giới là một trong những thách thức rất lớn đối với một linh mục triều cũng như đối với bất cứ linh mục nào đang làm mục vụ giữa dân chúng. Chúng ta cũng phải khẳng định là Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động mãnh liệt trên thế giới biểu lộ qua những đức tính và nhiều điều tích cực của đời sống con người. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhận ra là còn rất nhiều những điều phản chứng nơi nhiều người và cả nơi các linh mục.

Vì phải đối mặt với quá nhiều thách đố và khó khăn, nên xuất hiện nguy cơ là các linh mục rơi vào tình trạng thoả hiệp với chính mình. Điều cần lưu ý ở đây là một khi chúng ta đã sống thoả hiệp với bản thân, chúng ta rất dễ sa vào những hành vi không còn phù hợp với đời sống Kitô hữu và đặc biệt là không còn phù hợp với đời sống linh mục nữa. Nhiều linh mục tôi quen biết đã cố biện minh cho những hành vi sai trái của mình với suy nghĩ là: “Tôi đáng được hưởng những điều này, vì tôi đã bỏ mọi sự để theo Chúa mà”. Hay là: “Tôi cần những thứ ấy để có thể tiếp tục những công việc mục vụ khó khăn của tôi”. Tuy nhiên, những suy nghĩ như trên chẳng giúp gì hơn cho cuộc sống của các ngài, trái lại nó lại càng gây thêm rắc rối. Những suy nghĩ và hành động như thế là dấu chỉ cho ta thấy muối chứng nhân của chúng ta phần nào đã bị nhạt và lúc này chúng ta đã thật sự cần phải có sự hoán cải chính mình.

Đời sống và sự chiến đấu hằng ngày của đời linh mục thật sự là căng thẳng và có giá trị đặc biệt, nó mang chiều kích “đặc thù tối hậu”. Mỗi người chúng ta đều quen biết một số người đang sống trong đời sống gia đình. Hôn nhân không phải là phương thuốc đặc trị cho mọi thách đố của đời sống độc thân linh mục của chúng ta đâu. Quan sát cẩn thận về đời sống hôn nhân, chúng ta cũng thấy rẳng đây thật sự cũng là một đời sống đầy cam go và thử thách. Cũng giống như đời linh mục, hôn nhân cũng ngập tràn niềm vui và phần thưởng, nhưng nó cũng mang theo nhiều nỗi đau buồn và sầu khổ. Từ bỏ đời sống độc thân linh mục và lập gia đình có thể cũng giải quyết được một số khó khăn, nhưng cùng lúc đó nó lại mang đến hàng loạt những khó khăn khác. Vì vậy, trước khi quyết định từ bỏ đời sống độc thân dâng hiến để lập gia đình, chúng ta nên kỹ lưỡng tham khảo nhiều người đang sống trong bậc gia đình. Bởi lẽ, “nhìn từ đằng xa, cỏ luôn xanh hơn nhiều”, chứ thực tế thì không hoàn toàn luôn quá thú vị như thế.

Đời sống con người luôn đầy thách đố, bất kể ơn gọi nào ta được kêu gọi để sống nó đều đòi hỏi nhiều hy sinh và kiên trì. Tuy nhiên, đời sống linh mục vẫn mang một nét khó khăn đặc biệt. Bởi lẽ chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta điều đó. Ngài đã nói với chúng ta rằng nếu như chúng ta muốn thật sự trở nên môn đệ của Ngài thì: “Chén của ta anh em sẽ thật sự uống” (Mt 20,23). Điều này là hoàn toàn chính xác, chúng ta càng theo sát Ngài bao nhiêu chúng ta càng tham dự sâu xa hơn nữa vào sự đau khổ và cái chết của Ngài. Ngày nay không chỉ đơn giản như là một cái mốt nói đến linh mục vừa là tư tế vừa là của lễ, nhưng kiểu nói này thật sự giúp chúng ta cảm nghiệm linh mục ngày nay phải như thế nào...

Nếu như cha đã là một linh mục thâm niên rồi, cha có dịp để ngồi nhìn lại những thập niên đã qua trong đời linh mục của mình, cha ngồi nhớ lại về đời sống mục vụ, những lời nói, những bài giảng của mình trong suốt quãng thời gian dài ấy mà cha không tìm ra một lần nào có người đã không tán thành, có người đã phản đối, có người đã phê bình hay loại trừ cha thì dường như một cách nào đó cha có thể nói rằng đời sống mục vụ của cha đã không hoàn toàn rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô. Vì chính Đức Kitô nói: “Bất cứ ai muốn theo Ta, người ấy phải vác thập giá của mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Điều đó chính là lời mời gọi và cũng là lời hứa cho những người theo Chúa. Vì thế, thật đúng đắn để nhìn vào những đau khổ của đời linh mục trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời khủng hoảng như là việc tháp nhập sâu sa vào cuộc khổ nạn của Chúa. Có thể là đáng hay không đáng phải chịu, có thể là nên khiển trách hay không nên khiển trách các linh mục, đời sống linh mục của chúng ta vẫn là sự tham dự vào thánh giá của Chúa Kitô. Thánh giá này sẽ thanh luyện những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta, và qua thánh giá này của các linh mục nó sẽ thật sự mang lại niềm hy vọng lớn lao cho dân chúng những con người đang phải chịu những đau khổ lớn lao bằng nhiều hình thức.

Đời sống linh mục là một đời sống khó khăn. Điều này chẳng có gì sai. Mỗi người chúng ta phải thật sự ghi ơn những linh mục đã đi trước chúng ta, mở ra con đường cho chúng ta bằng chính đức tin và sự hy sinh của họ, những hy sinh của chúng ta cũng thật là bảo chứng và không kém phần quan trọng cho những người khác. Đời sống linh mục là một đời sống đầy cam go, thách thức nhưng thật giá trị. Nó đòi hỏi phải được sống chân thực như thế cho những con người đang can đảm tìm kiếm và theo đuổi cùng ơn gọi này.

Với những anh em linh mục của tôi, những người đang vất vả trên đường thập giá, hãy can đảm lên. Sự hy sinh vất vả của cha chính là sự đồng hình đồng dạng của cha với đời sống của Chúa Kitô, và đó là điều thiết yếu cha đang sống đời linh mục với sự chân thực. Cha ơi, hãy mạnh mẽ tiến lên...

Minh Tuấn, SDB, chuyển ngữ từ “Priesthood is difficult”
của Lm. Stephen J. Rossetti

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Viết cho em - người con gái đi theo ơn gọi

Tôi quen em trong một lần đi tĩnh tâm hè tại nhà dòng. Thật tình cờ và cũng là ý Chúa. Tôi và em cùng dốc bầu tâm sự với nhau về mình…



Em. Một cô gái với vóc dáng gầy nhỏ cùng làn da ngăm ngăm. Là một người chị Cả trong gia đình, em phải gánh vác mọi công việc từ nhỏ tới lớn. Tất cả đổ lên đôi vai gầy nhỏ đó vì gia đình em hoàn cảnh lắm!

Mẹ em – một người con gái đẹp, “ công – dung – ngôn – hạnh” nhưng lại “bạc phận”. Bố em là người bố, người chồng không có trách nhiệm, chỉ biết có rượu chè, cờ bạc để rồi mỗi lần lê bước về nhà là trong những cơn say, chửi mắng. Mẹ em cứ thế mà gầy, yếu đi nhiều. Chớ trêu thay, căn bệnh ung thư lại đến gõ cửa và ở lì lại với người mẹ bất hạnh của em. Và thế rồi, nỗi vất vả ấy theo tháng ngày cuốn thành vành khăn trắng trên đầu em cùng ba đứa em nhỏ khi đưa tiễn mẹ ra nghĩa trang.


Cuộc sống thiếu vắng bóng của một người mẹ hiền như càng làm cuộc sống của em nặng nề và vất vả hơn. Từ giờ em là chị và cũng là mẹ của gia đình nhỏ bé này. Nhưng dù vậy, dẫu có vất vả, mệt mỏi sau những giờ học buổi sáng, công việc ở nhà, em vẫn không quên đến nhà thờ mỗi buổi tối để rồi nuôi lớn ơn gọi “ đi tu” của em từ nhỏ. Nhưng em nghĩ rằng điều đó sẽ chỉ là ước mơ mà em mãi ủ ấp trong lòng. Tuy vậy Chúa luôn có cách riêng của Ngài. Ước mơ đó đã được biến thành sự thật khi em được một Soeur giúp đỡ. Và rồi em quyết định, một quyết định mà em cho là táo bạo. Em xin bố về nhà dòng.

Em cất bước đi, dẫu biết sau lưng em là những lời chửi rủa từ người cha của mình. Ba đứa em nhỏ chẳng hiểu gì ngoài việc tròn xoe đôi mắt nhìn chị mà khóc. Em đau đến quặn lòng. Em vẫn bước… bước theo tiếng gọi và lý tưởng của mình. Nhưng những bước đi ấy thật nặng nề làm sao!

Ở nhà dòng chưa bao lâu thì em nghe tin bố em đi bước nữa. Màu tang trắng của mẹ chưa phai nhạt bởi bàn tay thời gian thì giờ lại được sơn lên màu đỏ “song hỷ”. Em quỳ bên cây Thánh Giá trong nhà nguyện rồi khóc. Em nhớ mẹ… và em sợ rằng sẽ có người phụ nữ khác sẽ giống như người mẹ hiền của em. Em nghĩ đời sao mà nhiều cay đắng đến vậy!

Qua thời gian, vết thương cuộc đời của em dần lành lại. Em đã bắt đầu tìm được niềm vui mới, hạnh phúc mới. Bây giờ, em vẫn tiếp tục đi học. Tôi cũng thấy vui cho em vì em đã tìm thấy được lý tưởng sống đích thực của mình.

Tôi cầu nguyện cho em. Tôi cầu chúc em bền đỗ trong ơn gọi và bình an nơi Chúa và Cộng đoàn em đang sống.

Và tôi gửi em:

Như cánh chim bay vào trời lạ
Cho bướm kia mật ngọt say hoa
Em ơi! phải chăng đi tu là vất vả?
Bởi đời em hát mãi một bài ca…
Có những đêm…
Bên Thánh Giá một mình em ngồi khóc
Tiếng nước mắt rung trong lòng hiu quạnh
Em tự hỏi không biết từ bao giờ?
Tâm hồn em đã nhuốm buồn vu vơ
Có những người….
Nhìn em! Cười bảo điên
Bởi em yêu người không biết mặt
Không như họ với tình yêu trần thế
Chẳng tặng quà hay đưa đón cũng em
Ngước mắt nhìn….
Em ơi! Hãy mỉm cười
Người tình tôi đó hãy vui tươi
Người dang tay như ôm tôi vào lòng
Không giận hờn, oán ghét mãi chờ mong
Tôi trông cậy, say sưa suốt đêm ngày
Tôi yêu người dù rằng tôi chẳng thấy
Nhưng tôi tin Ngài luôn vẫn mãi bên tôi!
Thân tặng em – Người con gái đi tu


Và em nhìn kìa! Thánh Giá đã nở hoa rồi đó!

…Hạt Bụi…


Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Tâm hồn



Tâm hồn con đền thờ Chúa ngự
Có ngăn nắp trật tự đèn hoa?
Có khiêm cung, bác ái chan hòa?
Hay như phiên chợ chiều vội vã?

Nào toan tính bán mua hối hả
Kiếm lợi danh, thỏa mãn tấm thân
Biết áo cơm thang thuốc là cần
Nhưng ơn Thánh cần hơn tất cả.

Tâm hồn con Chúa đâu xa lạ
Chính con lạ với mình mà thôi
Con đâu ngờ quá nhiều tội lỗi
Cứng cõi, nghênh ngang ngạo thấu Trời.

Nếu con thấy mình như Chúa thấy
Con sẽ ghê tởm mình lắm thay
Nào ích kỷ, chua cay, gắt gỏng
Đầy dục vọng lại tưởng mình hay.

Ôi lạy Chúa, con xin thờ lạy
Đền thờ con Chúa ngự đêm ngày
Mà con để bao điều nhơ nhớp
Con thật lòng hoán cải từ đây.

-Scholastica-