Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015
Giáo Dục Nhân Bản Cho Thiếu Nhi
"Tôi muốn nói lên niềm vui mà các trẻ em mang đến cho mỗi người chúng ta. Chúng là mùa xuân của cuộc đời,là lời báo trước về trang sử sắp đến của mỗi miền quê hương trần thế” (Gioan Phaolô II, Diễn từ trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 2.10.1979).
1. Gia đình không có trẻ em, Nhà Thờ vắng bóng thiếu nhi, thì không có mùa xuân. Thời nay, nhờ chăm sóc y tế, số trẻ em chết sớm đã giảm đi rất nhiều (nếu không xét đến những trẻ em không được chào đời). Thế nhưng không còn nhiều gia đình đông con như thời trước.
Xem ra phần lớn các gia đình khá giả rất quan tâm chăm sóc con cái, từ thức ăn đến y phục, nhiều phụ huynh đưa con đến trường và cũng chịu khó đón con về sau buổi học. Thời đại của điện tử kỹ thuật số, các em sớm tiếp cận những phát minh khoa học, sử dụng vi tính, internet, trò chơi điện tử, biết bấm điện thoại di động, có khi còn nhanh và khéo hơn người lớn. Các em được cha mẹ cung cấp mọi thứ. Do đó, bởi được chiều chuộng, cung phụng, từ từ các em quen thói đòi hỏi.
2. Còn về cung cách làm người đối với đồng loại, có mấy ai nghĩ tới?
Đạo làm người phải có lễ nghĩa. Con người ai lại không có gia đình, không có họ hàng. Ngoài phạm vi nhỏ hẹp của gia đình với cha mẹ, anh chị em, còn có liên hệ với ông bà nội ngoại, cô bác, cậu dì, có tình làng nghĩa xóm . Trẻ em cần được chỉ bảo, để biết cư xử như thế nào cho phải phép đối với kẻ trên người dưới.
Làm cha mẹ phải biết sửa dạy con cái. Không nên đánh đập la mắng làm cho con cái nhát sợ, nhưng phải cương quyết và khéo léo bài trừ thói xấu khi thấy nó xuất hiện. Tiên vàng, gương sáng và lời lành của cha mẹ sẽ làm cho con cái tin tưởng và nghe theo.
Người Công Giáo chúng ta có gương của Thánh Gia, của Chúa Giêsu. Đức Maria đã theo lời sứ thần Gabriel mà đón nhận Con Chúa nhập thể (Luca 1,38). Thánh Giuse vâng theo ý Chúa rước Maria về nhà mình (Mt 1,24). Còn Chúa Giêsu hằng vâng phục hai ông bà và ngày càng thêm khôn ngoan, thêm vóc dạng và thêm ân sủng trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người ta (Luca 2,51-52).
3. Chúa Giêsu có một nghệ thuật sống, Người là Thầy dạy tuyệt vời (Mt 23,8; Gioan 13,8). Chính Chúa Cha bảo chúng ta phải nghe lời Người (Mt 17,5). Và cũng có lời Chúa Giêsu mời gọi: "Hãy đến với Ta...Hãy học với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mt 11,29). Cách đặc biệt, Người quan tâm đến trẻ em: "Hãy để các trẻ nhỏ đến cùng Ta, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa thuộc về những người như thế" (Luca 18,16).
Do đó , không được ngăn cấm mà phải lo liệu cho thiếu nhi được học biết và yêu mến Chúa Giêsu, siêng năng đi Lễ và trở nên bạn của Chúa Giêsu Thánh Thể. Các em cần tham gia ban Giúp Lễ, ban Hát, Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể.
Đàng khác, nhờ việc xét mình hàng ngày và thường xuyên lãnh nhận Bí Tích Giải tội, thiếu nhi Công Giáo sẽ sống khiêm nhường, ngay thật, hy sinh, vâng lời cha mẹ, tôn trọng người khác, sẽ trở thành người bạn tốt đối với các bạn.
Bí Tích Thêm Sức sẽ cho thiếu nhi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, là Ân ban của Chúa Phục Sinh, để sống làm con thảo của Chúa Cha, làm tông đồ nhỏ của Chúa Giêsu.
Mong các gia đình quí trọng con cái, là ân huệ Chúa ban, và ý thức trách nhiệm gìn giữ, chăm sóc và giáo dục con cái nên người, thành mùa xuân của gia đình. Phải có sự cộng tác của gia đình với các Linh mục, các Tu Sĩ để đào tạo thiếu nhi. Làm thế nào để Hội Thánh có được Mùa Xuân tươi thắm với thật nhiều tín hữu nhiệt thành, nhiều gia đình hạnh phúc, với nhiều Ơn Gọi Đời sống Thánh Hiến, nhiều Ơn Gọi Linh mục.
+ Gm. Tôma Nguyễn Văn Tân
Ơn Gọi Một Nét Nghĩ Suy
( ảnh minh họa: Lễ cầu cho Ơn gọi Nhà Thờ Chính Tòa Đà Nẵng)
Cuộc đời con người tự nó đã là một huyền nhiệm, huyền nhiệm vì con người được tạo dựng trong ý định của Thiên Chúa: “chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”[1]. Như thế, nơi sâu thẳm thân phận con người đã có một huyền nhiệm và con người không tồn tại do chính ý định của mình. Câu truyện thời đệ nhị thế chiến của một văn hào Pháp kể cho ta về kinh nghiệm của chính ông khi bị bắt và nhốt tại trại tập trung của Đức Quốc Xã. Mọi người bị nhốt trong một căn phòng chật chội, để giết thời gian, mọi người trong phòng mới nghĩ đến cách mỗi người tưởng tượng xem mình đã có mặt trên đời này như thế nào. Có những câu chuyện được kể ra nhưng đại khái mỗi người đều kể như nhau về cuộc gặp gỡ định mệnh của cha mẹ, sau đó hai người lấy nhau và sinh ra mình. Nhưng ông tự hỏi: chẳng lẽ cuộc đời của tôi với biết bao niềm vui nỗi buồn lại bắt nguồn bởi một ánh mắt nhìn của một người con gái? Chẳng lẽ cuộc đời đầy những thăng trầm và những biến cố của tôi lại khởi đi từ hành vi tình dục của hai người nam nữ hay sao? Quả thực, con người không chỉ đơn thuần là vật chất nhưng là một huyền nhiệm và khởi đi từ huyền nhiệm của tình yêu của người với người. Hơn thế nữa, con người còn được khởi đi từ chính ý định của thần linh là Thiên Chúa của mình, chính trong nhãn giới đó mà con người tự nó là một huyền nhiệm và ơn gọi làm người tự nó đã là một ơn gọi cao cả. Nhưng làm sao để chúng ta sống ơn gọi làm người của chúng ta hay chúng ta cứ buông xuôi phó mặc cho dòng thời gian và sự đẩy đưa của cuộc đời? Tâm thức của người Việt Nam có câu: “không thành công thì cũng thành nhân”, nhưng thiết tưởng không phải như vậy, vì chúng ta trước hết phải thành nhân trước đã, rồi thành công hay không sẽ được xét đến sau, nói cách khác, nếu chúng ta thành công mà không thành nhân mà lại trở thành một con thú nào đó thì thật là vô vọng và nguy hiểm. Như vậy, trước tiên chúng ta cần sống cho thành nhân trước đã, bởi chưng mỗi người khi sinh ra đã là người trong phương diện hình thể với chân tay, đầu cổ, con tim và trí tuệ… và cho dẫu họ có thiếu hụt một vài cơ phận thì họ vẫn mang trong mình dáng dấp con người và một bản thể người. Thế nhưng là người chưa chắc đã làm người. Bởi làm người đòi chúng ta phải sống cho xứng với nhân phẩm một con người, làm người đã khó nhưng để trở thành người hay một mức độ trưởng thành nhân bản (gốc người) lại còn khó hơn nữa. Tu đức và đạo đức bình dân gọi các nhân đức công bằng, tiết độ, khôn ngoan, dũng cảm là những nhân đức trụ trong các nhân đức nhân bản của con người. Khi con người sống trọn vẹn bốn nhân đức này, chúng ta mới có thể trở thành nhân cách tốt đẹp nhất. Hai nhân đức đầu tiên công bằng và khôn ngoan làm cho con người có thể làm người, hai nhân đức sau khôn ngoan và tiết độ làm cho phẩm giá của con người ấy có giá trị hơn.
Liền sau ơn gọi làm người, mỗi người công giáo còn mang trong mình ơn gọi để trở thành một Kitô hữu. Chúng ta nói ơn gọi vì đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa ban cho mà chúng ta không thể nào tự mình có được hay do nỗ lực bản thân mà có. Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa và nó có tính chất năng động và linh hoạt. Ơn gọi Kitô hữu chính là việc tin vào Thiên Chúa được mạc khải qua Đức Kitô, ơn gọi Kitô hữu là việc tin vào Đức Kitô chính là Thiên Chúa đã làm người, chịu nạn, chịu chết và đã sống lại, ơn gọi Kitô còn là việc sống những điều Thiên Chúa dạy trong đời sống của mình. Như thế, khi con người nhận được ơn gọi làm người để cùng sống với con người thì ơn gọi Kitô hữu mời gọi chúng ta sống cùng Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Chính trong ơn gọi ấy con người Kitô hữu được lãnh nhận những chức vụ với Thiên Chúa và với con người. Ơn gọi Kitô cũng là một ơn gọi nền tảng cho con người và có một chiều kích phổ quát. Là nền tảng vì nó là bắt nguồn của những ơn gọi khác, như thánh Augustin nói: “cho anh em tôi là giám mục, với anh em tôi là Kitô hữu”. Ơn gọi trở thành Kitô hữu cũng nhắc nhớ chúng ta phải lắng nghe lời của Thiên Chúa nói với mình. Nhưng chúng ta tìm kiếm lời Chúa ở đâu trong cuộc sống bộn bề của ngày hôm nay? Lời Thiên Chúa vẫn nói với con người trong Thánh Kinh, Thánh Kinh không phải là cuốn sách chết được viết cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng Thánh Kinh là lời sống động của Thiên Chúa, vì chưng phụng vụ lời Chúa mỗi ngày cho ta được một đoạn Thánh Kinh giống nhau nhưng mỗi người chúng ta lắng nghe lời Chúa nói với mình cách hiện sinh và hiện tại. Thiên Chúa nói với tôi không phải là trong quá khứ nhưng là ngay trong lúc này: “đừng xét đoán để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán”, Ngài cũng nói với tôi trong hiện tại: “anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” và Ngài vẫn thúc đẩy tôi hành xử với mọi người những điều tốt đẹp theo khuôn vàng thước ngọc: “Điều gì anh em muốn người khác làm cho mình, anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy”. Như vậy, lời của Thiên Chúa vẫn nói với chúng ta vào thời điểm hiện tại, vào lúc này của cuộc sống để đánh thức và kêu gọi chúng ta hoán cải. Lời Thiên Chúa còn được phát ra ngay trong đáy lòng của mỗi người qua tiếng nói của lương tâm. Ai cũng có một lương tâm và đó là tiếng nói của Thiên Chúa đang thúc đẩy ta làm lành và lánh dữ. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói đó trong chính mình và mau mắn thi hành. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta có dám lắng nghe và thi hành theo theo tiếng của Thiên Chúa nói với mình hay không. Khi ngôn sứ Elia đến và nói với vua Akháp: “Ngài hãy xin Đức Chúa một dấu và Ngài sẽ ban cho”, nhưng vua Akháp trả lời rằng: “Tôi là ai mà dám thử thách Đức Chúa”, ở đây không phải vua không dám thử thách Đức Chúa cho bằng ngài không muốn lắng nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa, vì khi nghe được tiếng nói ấy ngài và mỗi người chúng ta bị lời ấy chất vấn, và vì chính mình mà phải chối từ không muốn thi hành mà làm theo ý riêng của mình và không muốn hoán cải. Sống ơn gọi Kitô hữu chính là việc chúng ta sống đức tin và cử hành đức tin Kitô qua đời sống cầu nguyện và phụng tự của mình. Ơn gọi Kitô hữu liên kết chúng ta với Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em với nhau, ơn gọi Kitô hữu đồng thời đưa ta vào trong gia đình Giáo hội là chính thân thể của Đức Kitô, ơn gọi ấy còn mời gọi ta sống với Chúa và sống cho nhau trong tình yêu thiện hảo mà Thiên Chúa đã gieo vào đáy lòng mỗi người chúng ta.
Khi đến một lứa tuổi nào đó, chúng ta bắt đầu cảm nhận được một tiếng gọi để chọn lựa một bậc sống và lối sống. Kinh Thánh Tân ước cho ta một trình thuật về ơn gọi của bốn môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu, các ngài vẫn sống cuộc sống bình dị cho đến một ngày Đức Giêsu đến và gọi: “các anh hãy theo Ta”. Khi nghe thấy tiếng gọi ấy, các môn đệ đã lập tức bỏ mọi sự mà theo Ngài. Chúng ta ngày hôm nay chẳng có mấy ai được Thiên Chúa hiện đến và gọi “hãy theo Ta” cách nhãn tiền như vậy, chúng ta càng không được gọi theo cách của các môn đệ qua sự tiếp xúc trực tiếp với Thiên Chúa. Thế nhưng ngày hôm nay, tiếng gọi của Thiên Chúa đã và đang được gieo vào trong lòng mỗi người chúng ta trong đời sống hằng ngày. Cũng như các môn đệ đầu tiên, sau khi đã nghe Gioan Tẩy giả loan báo “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” và các ông đã đi theo Đức Giêsu để được ở cùng Ngài ngày hôm đó; sau ngày hôm đó các ngài lại trở về với đời sống thường ngày của chiếc thuyền và cái lưới, họ cũng cầu mong thời của Đấng Thiên sai và sống với tâm tình ấy, nơi con người Giêsu, Ngài đã để lại cho các ông một cảm tình đặc biệt để rồi từ cảm tình, sự tín nhiệm ấy mỗi ngày lại lớn lên và đến khi chín muồi Đức Giêsu đến và gọi: “hãy theo Ta” và các ông lập tức bỏ mọi sự mà theo Ngài. Ơn gọi của chúng ta hôm nay cũng vậy, chúng ta cũng khởi đi từ những trò chuyện, những tiếp xúc với ai đó để có một sự tín nhiệm nơi họ, để rung động, để yêu thương, để gặp gỡ và đến với ơn gọi hôn nhân của mình. Chúng ta cũng khởi đi từ những cảm nghiệm, những tâm tình với thế giới và con người, khởi đi từ cầu nguyện để đến với ơn gọi tận hiến và tu trì. Thiên Chúa vẫn chọn và gọi qua đời sống rất thường nhật để rồi chúng ta cảm nghiệm trong cuộc sống và một lúc nào đó chính Thiên Chúa qua một trung gian, Ngài thể hiện tiếng gọi của mình và mời gọi chúng ta vào bậc sống với và sống cho người khác. Ta sống trong ơn gọi hôn nhân nhờ tiếng gọi của Thiên Chúa đưa ta đến với một ai đó để yêu thương, để bổ khuyết và xây đắp gia đình, Thiên Chúa gọi ta đến với ơn gọi tu trì qua lòng nhiệt thành tông đồ, qua tình yêu dâng hiến trong đời sống phục vụ Thiên Chúa qua tha nhân. Điều quan trọng là ta có biết nhận ra tiếng Thiên Chúa muốn ta sống thế nào. Các môn đệ đã lập tức đáp trả tiếng gọi bằng việc theo Đức Kitô, nhưng sau đó ta lại thấy Phêrô lại lập tức chối Chúa đến ba lần, Giuda cũng lập tức bán Chúa với giá của một tên nô lệ, Toma cũng lập tức nghi ngờ về sự phục sinh của thầy mình. Nếu như các tông đồ là những người có kinh nghiệm trực tiếp ở với Đức Giêsu mà còn có những thời gian của chán nản, vô tín thì huống chi chúng ta làm sao có thể sống trọn vẹn ơn gọi của mình được. Sống ơn gọi chính là việc từng ngày chúng ta phải tiếp tục chọn lựa, vì không phải chọn lựa một lần là cuộc đời của chúng ta sẽ bình ổn như vậy, cuộc đời sẽ có những thăng trầm và biến động khiến ta phải đặt lại ơn gọi của mình. Con người luôn hiện sinh trong cuộc đời của họ, cũng vậy, chúng ta sẽ một ngày nào đó bị phai nhạt tình yêu của mình trong ơn gọi cho dẫu là ơn gọi tận hiến hay hôn nhân. Tình yêu vợ chồng sẽ có ngày phai nhạt và tình yêu tận hiến với sứ vụ và Thiên Chúa sẽ mai một với thời gian. Vì thế, điều cần thiết là mỗi ngày chúng ta cần làm mới lại tình yêu của mình với Thiên Chúa hay với người bạn đời, để qua việc làm mới ấy, mỗi ngày chúng ta lại sống lại tình yêu và cảm giác ban đầu của việc chọn lựa.
Ơn gọi con người không chỉ dừng lại trong việc chọn bậc sống hôn nhân hay tu trì, nhưng mỗi người đều có ơn chung một ơn gọi nên thánh: “Các ngươi hãy nên thánh vì ta là Đấng Thánh”[2]. Chính Thiên Chúa đã muốn con người sống thánh thiện giống như Ngài là Đấng thánh. Đức Giêsu cũng truyền dạy con người thời Tân ước: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”[3]. Chỉ Thiên Chúa là Đấng Thánh và chúng ta bắt chước Ngài trong ơn gọi này. Sự thánh thiện mà Thiên Chúa muốn nơi con người đó chính là việc con người biết lưu giữ và tỏ lộ hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. Hình ảnh Thiên Chúa chính là việc con người tỏ lộ mối hiệp thông Ba Ngôi trong đời sống cộng đoàn của mình, điều này có nghĩa mỗi người chúng ta sống tinh thần hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta cần củng cố đời sống cầu nguyện của mình qua việc tham dự thánh lễ và cử hành các bí tích, qua việc cầu nguyện riêng tư và với cộng đoàn nhằm thiết lập mối tương quan cá vị (riêng tư) của mình với Thiên Chúa như một người thân, một người bạn và là Thiên Chúa của mình. Nhưng chúng ta không chỉ sống với Thiên Chúa mà còn sống với con người, vì thế: “ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình đó là kẻ nói dối”[4]. Đời sống cầu nguyện phải được thăng hoa trong chính cuộc sống hằng ngày bằng cử chỉ thân tình và mối hiệp thông với mọi người chung quanh. Thánh nhân phải là người sống cùng thế giới và thăng tiến đời sống tâm linh của mình nhờ việc cộng tác phát triển cộng đồng sinh mệnh mình đang sống. Không có thánh nhân nào không có một quá khứ, không có tội nhân nào lại không có một tương lai. Chúng ta ý thức thân phận dòn mỏng của con người chúng ta dễ sa ngã chước những cám dỗ của cuộc sống, nhưng không vì thế mà chúng ta tuyệt vọng. Nhưng chúng ta, những con người theo Chúa cần sám hối mỗi ngày và quyết tâm sửa đổi bản thân. Ơn gọi nên thánh là ơn gọi căn bản mà Thiên Chúa đặt nơi sâu thẳm tâm hồn con người, nhờ đó con người mỗi ngày ước muốn hoàn thiện mình và chọn bậc sống nào phù hợp với mình hầu đạt đến cùng đích của mình là chính Thiên Chúa. Con người khát khao được trở nên giống Thiên Chúa, vì thế nên thánh hay sống thánh thiện chính là con đường tốt nhất để thỏa mãn ước mơ của con người.
Mỗi con người đều mang trong mình những ơn lành của Thiên Chúa, chúng ta sử dụng những ơn lành đó nhằm thăng tiến con người mình trong đời sống Giáo hội và xã hội. Hơn thế nữa, mỗi ngày Thiên Chúa vẫn gửi đến con người những tiếng gọi để chọn từng người vào sứ vụ khác nhau: có người được chọn gọi để trở thành linh mục, giám mục; có người được gọi để trở thành những tu sĩ tận hiến cho Thiên Chúa trong đời sống thánh thiện phục vụ người những người nghèo khó, bệnh tật, những người cô đơn kém may mắn; có người được gọi để sống giữa đời với chồng với vợ và con cái, hầu qua gia đình họ trở nên thánh thiện và giúp nhau nên thánh. Mỗi ơn gọi là một sứ mạng khác nhau đồng thời Thiên Chúa cũng ban những ân sủng cùng với tiếng gọi của Ngài. Chúng ta hãy cố gắng lắng nghe và nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa để đáp trả, để vâng nghe và thi hành sứ vụ mà Thiên Chúa trao phó cho mình. Nhưng nền tảng của mọi ơn gọi là ơn gọi làm người, bởi đó con người cần sống ơn gọi nền tảng ấy trong đời sống mình, hầu tỏ lộ hình ảnh Thiên Chúa và bản tính con người tốt lành được Thiên Chúa tạo dựng nơi mình. Ơn gọi nên thánh được Thiên Chúa đặt nơi sâu thẳm tâm hồn con người như một ơn gọi căn bản nhất, hầu nhờ việc đáp trả tiếng gọi ấy, con người được trở nên giống Thiên Chúa của mình trong sự thánh thiện và tốt lành.
Mục Đồng Nguyễn
[1] St 1,26
[2] Lv 11,45
[3] Mt 5,48
[4] 1Ga 4,20
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2015
LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

TRUYỀN THỐNG VÀ THÁNH KINH NÓI GÌ?
Lm. VŨ XUÂN HẠNH
Ta không biết gì về việc Chúa rước Đức Mẹ hay Đức Mẹ rời cuộc sống trần gian bằng cách thức nào. Chỉ có một văn bản ngụy thư “Đức Mẹ đi vào giấc ngủ” (Mary’s Dormition), thế kỷ thứ V, cho biết, những giây phút cuối đời của Đức Mẹ, khi các tông đồ vây quanh để cầu nguyện thì Chúa Kitô đến đưa Đức Mẹ về Thiên Đàng. Dù sao truyền thống của Hội Thánh và một vài hình ảnh mà nhiều bản văn Kinh Thánh gợi lên, củng cố cho cho đức tin của chúng ta trong việc nhìn nhận Người Mẹ Thật của chúng ta đã tiên phong hưởng hạnh phúc cả hồn lẫn xác.
I. Truyền thống đức tin của Hội Thánh.
Niềm tin Đức Mẹ được triệu hồi cả hồn lẫn xác về trời bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của Hội Thánh. Đến thế kỷ VI, Hội Thánh phương đông Đã sớm cử hành lễ Đức Mẹ Đi Vào Giấc Ngủ vào khoảng giữa tháng giêng. Sau này, hoàng đế Maurice (582-602) xác định dứt khoát lễ nay cử hàng ngày 15 tháng 8. Với lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt, Đức Giáo hoàng Theodore (642-649) đã muốn thiết lập lễ này cho nghi lễ Rôma ngay thế kỷ sau đó, thế kỷ thứ VII. Năm 813, Công Đồng Mayence truyền cho toàn Châu Âu cử hành lễ này với tên gọi là Lễ Mông Triệu (Thiên Chúa triệu hồi Đức Mẹ về trời), chính thức nhìn nhận cách mặc nhiên Đức Mẹ được triệu hồi về trời.
Đến năm 1854, sau khi đức Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, thì phong trào sùng kính Đức Mẹ vốn đã mạnh mẽ từ lâu trong Hội Thánh, nay như được dịp khuấy động dữ dội hơn. Chỉ trong vòng chưa đầy một trăm năm sau, tính đến năm 1945, khắp thế giới có khoảng tám triệu thỉnh nguyện thư của các tín hữu và khoảng gần 100. 000 thỉnh nguyện thư khác đến từ các giám mục, linh mục, các tu sĩ, các nhà thần học xin Tòa Thánh chính thức xác định tín điều về Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên hay Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Trước những lời thỉnh cầu tha thiết ấy, để có thể quyết định một cách thận trọng nhất trước vấn đề đức tin quan trọng này, Đức Piô XII công bố Thông Điệp Deiparae Virginis để xin ý kiến Giám mục đoàn trên khắp thế giới. Thật lạ lùng, sau năm năm hỏi ý kiến, chỉ có sáu giám mục nghi ngờ về tính chất ‘mặc khải’ của việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Dù niềm tin Đức Mẹ hồn xác về trời đã có từ rất lâu trong truyền thống Hội Thánh, nhưng mãi đến ngày 1.11.1950, tức vào ngày lễ các thánh Nam Nữ, bằng một phán quyết long trọng: “Chúng tôi khẳng định, chúng tôi tuyên bố và chúng tôi minh định như một tín điều được Thiên Chúa mặc khải rằng Đức Maria Vô Nhiễm trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc sống trần gian, đã được cất nhắc về vinh quang trên trời cả xác lẫn hồn” (tông hiến Munificentissimus Deus).
Đức Giáo hoàng đã không chọn ngày nào, lại chọn ngày lễ các thánh Nam Nữ để công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời. Tôi thấy có một ý nghĩa lớn: Giữa hàng ngũ các thánh của Chúa, Đức Maria trổi vượt trên tất cả về sự thánh thiện và lòng yêu mến Chúa. Sự thánh thiện tuyệt vời của Đức Mẹ đã mở đường cho Đức Mẹ đi tiên phong trước mọi thụ tạo, tiến về cùng Chúa, hưởng vinh quang nơi Chúa bằng toàn bộ con người, gồm cả xác lẫn hồn của Đức Mẹ.
II. Vài hình ảnh gợi ý trong các bản văn Thánh Kinh của ngày lễ.
Ta chú ý lời của Đức Maria trong Tin Mừng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong TYhiên CHúa, Đấng Cứu Độ tôi” (Lc 1, 46-47). Chính Đức Mẹ̣ – Đức Mẹ chứ không phải bất cứ tập thể hay cá nhân nào, dù là Hội Thánh hay chúng ta – đã ca ngợi Chúa, ca ngợi lòng thương xót của Chúa. Đức Mẹ đã tuyên xưng hành động cứu độ của Chúa, và gọi Chúa là “Đấng Cứu độ tôi”. Những chữ “Đấng Cứu độ tôi”, quả thật là lời quy hướng về Chúa. Đức Mẹ đã nhìn nhận, đã tin tưởng thực sự rằng: Chỉ có Chúa, chỉ trong Chúa, Đức Mẹ mới được vinh quang và hạnh phúc vô cùng như thế.
Lời ca ngợi quy hướng về Thiên Chúa của Đức Mẹ” “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”, còn được hỗ trợ bởi nhiều lời Kinh Thánh khác. Chẳng hạn, lời thánh Phaolô trong bài đọc II: : “Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của nhữn kẻ yên giấc…Hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng, khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực” (1Cr 15, 20tt). Đã từng có ai thuộc về Chúa Kitô như Đức Mẹ? Bởi thế, nếu Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, đã trở về trời cả hồn và xác, thì Đức Mẹ, người thuộc về hoa quả đầu mùa ấy một cách trọn vẹn, cũng được đưa về trời hồn xác, không có gì là điều khó hiểu. Bởi chính Đấng Cứu Độ đã thực thi ơn cứu độ trên khắp nhân loại, chắc chắn sẽ thực thi cách hoàn hảo nhất hành động cứu độ ấy trên chính người mẹ của mình.
Bài đọc I, trích sách Khải Huyền kết thúc: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta và uy quyền của Chúa Kitô của Người đã được thực hiện” (Kh 12, 10). Đây là lời nhấn mạnh sự chiến thắng trong ơn cứu độ của Chúa Kitô. Chắc chắn như chúng ta, Đức Mẹ đã không thể làm gì ngoài sức mình. Nhưng Đức Mẹ biết dùng sức mình để chiến đấu trong ơn thánh Chúa. Đức Mẹ đã không sống hay làm một mình, nhưng phó thác đời mình cho Chúa, để nhờ Chúa mà Đức Mẹ chiến thắng. Bởi Đức Mẹ tin chắc rằng, dù phải sống trong đau thương đến đâu, thậm chí nỗi đau đớn đến cùng cực như người mang thai “kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con”, hay sự dữ ập đến hãi hùng như “con rồng đỏ khổng lồ” đang đe dọa dữ dội, thì sự cứu độ của Chúa và vương quyền của Chúa Kitô đã được thực hiện. Mà sự cứu độ của Chúa đã được thực hiện, thì sự cứu độ ấy, chắc chắc bao trùm lên chính cuộc đời của Đức Mẹ. Đức Mẹ đã sống và chiến đấu với mọi thử thách trong Chúa. Ơn cứu độ dành cho tất cả những ai kiên trì chiến đầu và chiến thắng. Ơn cứu độ ấy thật xứng đáng trước tiên dành cho Mẹ của Chúa Kitô, người phụ nữ chiến thắng.
Điểm qua ba bài đọc, ta nhận ra: cùng đích của mọi ơn lành là chính Chúa Kitô. Bởi thế, dù là lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, nhưng Hội Thánh lại mời gọi ta hướng về Thiên Chúa, hướng về Chúa Kitô. Bởi chỉ nhờ ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trong cuộc phục sinh vinh hiển của Người, theo ý Thiên Chúa, Đức Meï môùi ñöôïc đưa ra khỏi trần gian, được trọng thưởng đặc biệt hồn xác lên trời. Bởi vậy, mừng lễ hôm nay là mừng sự nối kết gần gũi hết sức giữa niềm tin Mông Triệu của Đức Mẹ và niềm tin phục sinh của Chúa Kitô, người Con một yêu dấu của Đức Mẹ. Đó là sợi dây liên kết tất yếu giữa Mẹ và Con. Bởi như Chúa đã phục sinh thế nào, thì Mẹ của Chúa cũng là người trước hết hưởng vinh quang phục sinh của Con mình thế ấy. Chúa đã không để Đức Mẹ chịu cảnh hư nát, vì Đức Mẹ là Mẹ của Chúa, Đấng Vĩnh Cửu. Vì vậy, chúng ta tôn vinh Đức Maria hồn xác lên trời, cũng đồng thời là lúc chúng ta tôn vinh mầu nhiệm phục sinh cao cả của Chúa Kitô.
Đức Mẹ đã về trời, đó là dấu chỉ hữu hiệu cho đức tin của ta: Tương lai không còn là điều đáng ngại lo lắng, nhưng trở nên điều đáng quan tâm xây dựng, và cuộc sống này trở thành những ngày chuẩn bị cho tương lai ấy. Chúng ta chuẩn bị bằng cách bắt chước Đức Mẹ sống lành thánh trong tin yêu, sống niềm phó thác tuyệt đối trong tay Chúa, biết lắng nghe, thực thi Lời Chúa, sống tư cách làm con Chúa trong đời sống bác ái với anh em… Chúng ta hãy nhìn lên Đức Mẹ để thấy rằng, Đức Mẹ dù là người Nữ của chiến thắng, người Nữ vinh quang với triều thiên sao sáng, nhưng bị vây bủa đầy chông gai, thử thách. Nhìn lên Đức Mẹ như thế, để nhận ra chính mình mà vững niềm cậy trông. Bởi chúng ta cũng phải cam chịu nhiều thử thách. Vinh quang chỉ có thể lớn lên từ trong thử thách mà thôi.
Lạy Chúa Giêsu, nhờ công nghiệp của Đức Mẹ, xin thánh hóa toàn bộ cuộc đời chúng con, để chúng con cùng được như Đức Mẹ, xứng đáng lãnh lấy phần thưởng đời đời trên thiên quốc. Amen.
Thứ Ba, 11 tháng 8, 2015
Như Nắng mùa thu
Một góc chơi vơi
trong chiều tắt nắng
Một loài hoa dại
vẫn thắm chưa phai
Một lời thì thầm
con dâng lên Ngài
Giáo đường chiều nay
dịu vời man mác.
-adts-
Những lí do cần tôn kính nghiêm trang nơi Nhà thờ
- Lý do thứ nhất: Nhà thờ là nơi Thiên Chúa ngự cách riêng. Thiên Chúa là Đấng cao trọng vô cùng, trời là tòa Chúa ngự, đất là bệ dưới chân Người. Do đó, nhà thờ là cung điện loài người xây dựng nên, dù lộng lẫy nguy nga đến đâu, cũng không xứng làm nơi Chúa ngự. Nhưng vì yêu thương ta, vì Chúa lấy sự ở giữa con cái loài người làm vui thích; nên Chúa muốn ngự cách riêng trong các nhà thờ của ta. Nhà thờ chúng ta dù bé nhỏ tầm thường không đẹp đẽ nguy nga, nhưng có Chúa trời đất cao cả vô cùng ngự trong phép Mình Thánh đêm ngày trên bàn thờ, đó là lý do buộc ta phải tôn kính mến yêu nhà thờ của ta.
- Lý do thứ hai: Nhà thờ là nơi tiếp xúc thân mật giữa Chúa với ta, là nơi Chúa mở lòng rộng rãi ban xuống cho ta muôn ơn lành, là nơi ta có thể tin cậy trình bày mọi nỗi khó khăn gian khổ, mọi tâm tình nguyện vọng của ta với Chúa như con với cha, như bệnh nhân với thày thuốc, như kẻ thiếu thốn bần cùng với Đấng giầu có nhân lành. Kinh Thánh kể lại: Khi ông Gia-cóp về quê mẹ để trốn mặt anh là E-sau tìm giết, gặp trời tối ông phải ngủ lại dọc đường, gối đầu trên một hòn đá. Ban đêm ông nằm mơ thấy một cái thang bắc từ đất lên trời, đầu thang có Thiên Chúa ngự xuống, trên các bậc thang có các thiên thần lên xuống tấp nập. Sáng ngày thức dậy, ông nói : “Thực có Thiên Chúa ngự nơi đây mà tôi không biết. Nơi đây đáng kính sợ biết bao. Đây là nhà của Thiên Chúa, là cửa thiên đàng”.
Nhà thờ của giáo xứ chúng ta cũng là nhà của Thiên Chúa, là cửa thiên đàng, là nơi các thiên thần hằng lên xuống để chuyển lời cầu nguyện của ta lên Chúa và chuyển ơn lành của Chúa xuống cho ta.
Nhà thờ của giáo xứ chúng ta cũng là nhà của Thiên Chúa, là cửa thiên đàng, là nơi các thiên thần hằng lên xuống để chuyển lời cầu nguyện của ta lên Chúa và chuyển ơn lành của Chúa xuống cho ta.
- Lý do thứ ba: Ta phải tôn kính mến yêu nhà thờ, vì đó là nơi có một mối quan hệ mật thiết với ta hơn bất cứ nơi nào, là nơi đánh dấu những kỷ niệm êm đẹp nhất đời ta từ khi mới sinh đến ngày lìa thế. Khi ta mới sinh, cha mẹ đưa ta đến nhà thờ; nơi đây, ta đã được lĩnh thụ phép Rửa tội, được tái sinh làm con cái Chúa và được gia nhập Giáo Hội Chúa Ki-tô. Khi đến tuổi khôn, ta lại đến nhà thờ để xưng tội hiệp lễ lần đầu. Từ nơi đó, tòa giải tội kia, biết bao lần ta đã trút được gánh nặng nề của tội lỗi đè ép tâm hồn ta; biết bao lần Thiên Chúa đã khoan dung tha thứ cho ta, giơ tay ôm lấy ta như người cha ôm lấy người con phung phá trở về. Cũng trong nhà thờ này, trên bàn hiệp lễ kia, biết bao lần ta đã được dự tiệc Mình Thánh là của ăn mầu nhiệm nuôi linh hồn ta trên đường dương thế.
Khi đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình, ta cũng đến nhà thờ để lĩnh thụ phép Hôn Phối. Nơi đây linh mục thay mặt Giáo Hội chứng kiến và chúc phúc cho việc hôn nhân của ta được mọi ơn lành, cho gia đình mới của ta được trở nên gia đình thánh như gia đình Chúa ở Nazaret.
Thế rồi, khi ta vĩnh biệt cõi đời, xác ta được đưa vào nhà thờ, để Giáo Hội dâng lễ, anh chị em tín hữu họp nhau để cầu nguyện cho linh hồn ta chóng về thiên đàng. Như vậy, từ lúc sinh ra đến ngày lìa thế, cuộc đời ta được gắn liền với nhà thờ bằng những kỷ niệm rất êm đẹp, bằng những mối quan hệ rất mật thiết. Nơi đây, từ trái tim nhân lành Chúa Giê-su hằng phát ra những lời kêu gọi tha thiết : “Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, hết thảy hãy đến cùng Ta, Ta sẽ bổ sức lại cho”.
Kinh nghiệm cho thấy lời đó hoàn toàn thực hiện nơi ta, mỗi khi ta lấy lòng tin cây mến đến cầu nguyện trong nhà thờ này. Nơi đây biết bao lần buồn khổ, ta đã tìm được niềm an ủi; bao lần lưỡng lự nghi nan, ta đã tìm được ánh sáng soi đường; bao lần mệt nhọc và gánh nặng, ta đã được bổ sức; bao lần chán nản tuyệt vọng, ta đã tìm thấy nguồn nghị lực an ủi.
Khi đến tuổi trưởng thành xây dựng gia đình, ta cũng đến nhà thờ để lĩnh thụ phép Hôn Phối. Nơi đây linh mục thay mặt Giáo Hội chứng kiến và chúc phúc cho việc hôn nhân của ta được mọi ơn lành, cho gia đình mới của ta được trở nên gia đình thánh như gia đình Chúa ở Nazaret.
Thế rồi, khi ta vĩnh biệt cõi đời, xác ta được đưa vào nhà thờ, để Giáo Hội dâng lễ, anh chị em tín hữu họp nhau để cầu nguyện cho linh hồn ta chóng về thiên đàng. Như vậy, từ lúc sinh ra đến ngày lìa thế, cuộc đời ta được gắn liền với nhà thờ bằng những kỷ niệm rất êm đẹp, bằng những mối quan hệ rất mật thiết. Nơi đây, từ trái tim nhân lành Chúa Giê-su hằng phát ra những lời kêu gọi tha thiết : “Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, hết thảy hãy đến cùng Ta, Ta sẽ bổ sức lại cho”.
Kinh nghiệm cho thấy lời đó hoàn toàn thực hiện nơi ta, mỗi khi ta lấy lòng tin cây mến đến cầu nguyện trong nhà thờ này. Nơi đây biết bao lần buồn khổ, ta đã tìm được niềm an ủi; bao lần lưỡng lự nghi nan, ta đã tìm được ánh sáng soi đường; bao lần mệt nhọc và gánh nặng, ta đã được bổ sức; bao lần chán nản tuyệt vọng, ta đã tìm thấy nguồn nghị lực an ủi.
- Lý do thứ bốn: Nhà thờ là nơi họp mặt con cái Chúa trong đại gia đình giáo xứ. Hằng ngày tối sớm ít ra hằng tuần mỗi Chúa Nhật, ta cùng với anh chị em giáo hữu trong xứ họ tới nhà thờ, như đến nhà chung, để cùng nhau dự lễ, cùng nhau hiệp lễ là của ăn mầu nhiệm, cùng nhau chia sẻ vui buồn của nhau, cùng cầu nguyện chung với nhau và cho nhau. Những người thân yêu xa vắng như trở về đoàn tụ nơi đây, những người thân thương đã khuất như sống lại họp mặt nơi đây. Những lúc đó, ta thấy mình không lẻ loi cô đơn, vì có Chúa là Cha chung, có anh chị em tín hữu là bạn đường với ta tay nắm tay tiến về Quê Trời.
LỐI VỀ
Cuộc đời có nhiều con đường, nhưng xem ra con đường trở về là đẹp hơn cả. Lối về có thể là những trục lộ giao thông, cũng có thể là cố gắng thiện chí nên hoàn thiện.
Nói đến “lối về” là nói đến về nhà, nơi mình cất tiếng khóc chào đời. Con người ta có thể quên mọi thứ, nhưng không ai quên lối về quê. Quên lối về quê là những người mất gốc, vong bản. Những người sống xa quê, nhất là ở hải ngoại, lâu lâu có dịp trở về, thấy lối về thật gần gũi thân thiết. Tình quê rất đỗi thiêng liêng trong tâm hồn người Việt, đó là lý do tại sao những người dù đã cao tuổi mà vẫn sẵn sàng vượt nửa vòng trái đất, chấp nhận mọi thủ tục rườm rà tốn kém để trở về nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Có những người di chúc cho con cháu, ước mong sau khi qua đời được an táng trên mảnh đất của cha ông. Lối về nhắc họ nhớ đến những kỷ niệm thời ấu thơ, đến bầu khí thân thương của gia đình. Khi đi xa, mỗi người phải bươn chải, bon chen và luôn cảnh giác. Khi về nhà, ta thấy lại được sự thân thương và cảm giác an toàn. Một người bị xã hội chối từ không chốn dung thân, người ấy vẫn còn một lối về, đó là gia đình đang dang rộng vòng tay đón nhận. Con đường của lối về không chỉ mang vẻ đẹp của cây cỏ lá hoa, mà còn chất chứa niềm vui của gặp gỡ. Lối về dẫn ta đến sum vầy đoàn tụ, sưởi ấm tấm lòng đang lạnh giá khô cằn.
Lối về nhắc ta sống tốt đạo hiếu. Ta hiện hữu trên đời là nhờ có cha mẹ và sự đùm bọc của người thân. Nhớ ơn sinh thành dưỡng dục, ta được nhắc bảo đừng làm điều gì làm cha mẹ phiền lòng hoặc hổ thẹn với đời. Dù đã lớn khôn và trưởng thành, dưới cái nhìn của cha mẹ, chúng ta vẫn là những đứa con dại khờ cần được hướng dẫn chăm lo. Dù cha mẹ đã khuất bóng, tình thương và sự dạy dỗ của các ngài vẫn luôn đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường. Người luôn nghĩ về cha mẹ sẽ cố gắng sống làm người tốt, để không phụ công ơn và kỳ vọng của bậc sinh thành.
Lối về còn là đạo-làm-người. Trước khi học làm thánh, cần phải học làm người. Giữa một thế giới mênh mông phức tạp, chúng ta luôn phải cố gắng phục thiện để nên người có nhân có nghĩa. Sống giữa đời, ta dễ bị lây nhiễm lối sống giành giật bon chen ích kỷ. Những giây phút lắng đọng trong cầu nguyện sẽ giúp ta nhận ra những khuyết điểm của mình để quyết tâm sửa đổi. Một khi nghiêm túc suy xét những việc đã làm, chúng ta có thể lượng giá đó là những hành vi tốt hay xấu, để biết dừng lại trước khi quá muộn, nếu việc ta đang làm không đúng với lương tâm.
Lối về còn là đạo-làm-người. Trước khi học làm thánh, cần phải học làm người. Giữa một thế giới mênh mông phức tạp, chúng ta luôn phải cố gắng phục thiện để nên người có nhân có nghĩa. Sống giữa đời, ta dễ bị lây nhiễm lối sống giành giật bon chen ích kỷ. Những giây phút lắng đọng trong cầu nguyện sẽ giúp ta nhận ra những khuyết điểm của mình để quyết tâm sửa đổi. Một khi nghiêm túc suy xét những việc đã làm, chúng ta có thể lượng giá đó là những hành vi tốt hay xấu, để biết dừng lại trước khi quá muộn, nếu việc ta đang làm không đúng với lương tâm.
Đối với các tín hữu, lối về là con đường sám hối canh tân. Con đường này dẫn đưa chúng ta đến gặp Thiên Chúa, Đấng từ bi nhân hậu. Thiên Chúa là cội nguồn của nhân loại. Ngài dựng nên con người và cho họ được chia sẻ vinh quang ngàn đời của Ngài, vì Ngài luôn mong ước cho con người được hạnh phúc. Ngài kêu gọi và ban ơn phúc giúp con người nên hoàn thiện. Khi tạo dựng con người “giống hình ảnh của Thiên Chúa”, Thiên Chúa muốn qua con người, vinh quang của Ngài hiện hữu và chiếu tỏa khắp nơi. Như vậy, khi con người cùng nhau sống thánh thiện và thực thi công chính, Nước Trời đã khởi đầu ở trần gian, đời sau đã hiện hữu ở đời này. Ý thức mình là tạo vật của Thiên Chúa, mỗi chúng ta hãy sống đẹp lòng Ngài. Thiên Chúa luôn kêu gọi và mong chờ chúng ta trở về với Ngài. Hình ảnh người cha trong dụ ngôn “người cha nhân hậu” đã diễn tả lòng bao dung và từ tâm của Thiên Chúa. Người con thứ, sau một đời đi hoang đã nhận thấy cần thiết phải trở về. Những thú ăn chơi xa xỉ không làm anh thỏa mãn; những bóng hồng lòe loẹt không giúp anh thấy niềm vui. Khi bỏ nhà ra đi, anh nghĩ mình có thể tự xây dựng sự nghiệp. Khi thoát khỏi mái ấm gia đình, anh tưởng mình sẽ được tự do. “Sự nghiệp” và “tự do” mà anh mong ước đã tan nhanh như bong bóng xà phòng. Vinh hoa phú quý mà anh tưởng sẽ đạt được đã biến thành mây khói. Phút hồi tâm đã giúp anh vỡ mộng. Khi tỉnh ngộ, anh thấy cần một lối về. Anh thấy chẳng đâu bằng mái ấm gia đình, và anh đã quyết tâm trở về. Cũng con đường ấy, lúc ra đi, anh mang đầy dự tính, nay trở về chỉ ôm nỗi ân hận xót xa. Những gì anh định thưa với cha mình, không phải là những tranh luận cãi vã, mà chỉ là tâm tình sám hối ăn năn. Trên lối về, anh mang hy vọng, vì anh biết tính cha mình là người bao dung nhân hậu. Người cha đã âm thầm đau đớn chấp nhận chia gia tài, mặc dù biết rằng bao giông bão đang chờ con phía trước. Ông tôn trọng tự do của con, và muốn con phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm. Mặc dù anh bỏ nhà đi hoang, nhưng lối về vẫn thênh thang rộng mở. Người cha hiền vẫn mong ngóng trông chờ. Sự chờ đợi làm cho ông mòn mỏi về thể xác, nhưng tình thương của ông lại theo ngày tháng đong đầy. Khi con mắt thể xác đã mờ nhạt chẳng còn nhìn rõ những gì ở khoảng xa, con mắt trái tim giúp ông nhận ra kẻ khốn khổ tiều tụy kia là chính con mình. Lòng bao dung của người cha cũng là một lối về, luôn rộng mở, không oán trách, nhưng tràn ngập tình thương yêu tha thứ. Trong đau khổ và hy vọng, người cha đã âm thầm chuẩn bị bê béo, áo đẹp, dép mới và nhẫn vàng. Trong truyền thống xa xưa, đây là những thứ cần thiết để tổ chức một lễ cưới. Kinh Thánh diễn tả một hình ảnh tuyệt vời về tình thương của Chúa: khi đứa con hư còn ở đàng xa, cha nó đã chạy ra, ôm cổ nó mà hôn. Lòng bao dung cũng chẳng đợi người con kể lể sự tình, chẳng cần những công thức đã định sẵn. Người cha đã tha thứ cho người con. Lòng bao dung của ông mênh mông không bờ bến (x. Lc 15, 11-31).
Mỗi ngày sống, chúng ta đang đi trên lối về. Đó là con đường đến gặp gỡ Chúa và tha nhân. Đây cũng là con đường dẫn ta tới vĩnh cửu, vì hạnh phúc vĩnh cửu chính là kết quả của những gì chúng ta đang làm hôm nay.
-Gm Giuse Vũ Văn Thiên-
Nắng vàng ngòn ngọt
Bình mình reo tiếng ban mai
Nắng vàng ngòn ngọt buông vai nụ cười
Gần bên nhà Chúa vui tươi
Để con no thỏa tình Người yêu thương.
-adts-
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



