Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

VỀ SỚM KHI THAM DỰ THÁNH LỄ


Một số giáo dân đi lễ có thói quen xấu là rời nhà thờ ngay sau khi rước lễ. Hiện tượng này ngày càng nhiều và làm cho các cha xứ đau đầu không ít.
Trước vấn đề như vậy, nhiều lúc các mục tử cảm thấy mệt mỏi và muốn buông xuôi. Người thì cho rằng: “nói cũng như không, chỉ tổ cho chúng ghét”, người thì bảo: “họ còn đến nhà thờ là may rồi” hay “thôi thì cứ bổn phận mình làm, hồn ai nấy giữ” vv... Linh mục Edward McNamara, giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum khẳng định việc giáo dân về sớm khi thánh lễ chưa xong là một “vấn đề muôn thuở” và cần phải kiên trì, nhắc nhở “khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”. Cha còn kể lại giai thoại sau: Có một cha sở kia sai hai chú giúp lễ cầm nến sáng đi theo người đàn ông hay về sớm. Bối rối vì hành động đó, ông ta thắc mắc với cha sở thì được giải thích rằng: Vì Chúa Kitô Thánh Thể vẫn còn hiện diện trong ông sau khi rước lễ, do vậy ông cần được tôn vinh với nến sáng!



Dù sao câu chuyện này cũng cho thấy sáng kiến của cha sở đó khi ngài kiên nhẫn và tìm mọi cách thức để gây ý thức cho dân chúng về tầm quan trọng của thánh lễ và việc cần phải tạ ơn sau khi rước lễ. Có nhà thờ bên tây còn để hẳn hàng chữ trên màn hình phóng to:
“XIN CÁM ƠN ÔNG (BÀ) VÌ KHÔNG VỀ SỚM”.
Cần có một vài phút thinh lặng để tạ ơn sau khi hiệp lễ. Thánh lễ là sự tạ ơn và được cử hành với tư cách cộng đoàn, chứ không phải cá nhân, và do vậy, mỗi người tham dự hãy ở lại cho tới phút chót khi linh mục chủ tế đọc xong lời nguyện cuối lễ. Việc mọi người đồng thanh thưa Amen sau lời nguyện này nói lên tâm tình tạ ơn của đoàn dân mà mỗi người là một thành phần.
Hơn nữa, khi về sớm người ta mất đi cơ hội lãnh nhận phúc lành đi kèm với lời chúc bình an. Cuộc sống là một thánh lễ nối dài, mỗi người nhận lãnh ân huệ từ thánh lễ và rồi thông truyền lại cho tha nhân. Đó chính là sứ mạng của mỗi tín hữu. Bỏ qua việc tạ ơn của lời nguyện hiệp lễ cùng với phép lành và lời chúc lên đường đem bình an vào cuộc sống thường nhật, cũng chính là bỏ quên bổn phận chính yếu của mình trong đời sống Kitô hữu.
Ước mong mỗi người chúng ta ý thức tầm quan trọng của thánh lễ để tham dự cho trọn với tâm tình tạ ơn; đồng thời ước mong các mục tự hãy làm gương sáng và kiên nhẫn nhắc bảo giáo dân “khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” để họ tham dự thánh lễ cách tích cực và vui tươi.
Lm. Phêrô Nguyễn Đức Thắng

Trứng phục sinh

Một trong những biểu tượng của ngày Lễ Phục sinh là trứng phục sinh. Từ sự kiện Chúa Giêsu sống lại và bước ra từ nấm mồ, người Kitô hữu coi hình ảnh những quả trứng gắn liền với sự hồi sinh. Trứng cũng còn mang ý nghĩa sinh sôi, nảy nở như sự xuất hiện của mùa Xuân đâm chồi nảy lộc sau mùa Đông lạnh giá, khô cằn.
Theo quan niệm đã có từ lâu thì trứng tượng trưng cho nhiều đặc tính. Nó nói lên sự tái tạo, sung mãn, đổi mới và sống lại. Trứng luôn mang mầm sống. Mầm sống ấy làm sống lại cơ thể sống. Chúa Giêsu được coi như mầm sống và sau cái chết đã sống lại và hiện diện trong mỗi người chúng ta. Vì thế, ngày Phục sinh với nhiều nước châu Âu, tập tục trứng phục sinh vẫn còn được duy trì cho đến nay.

Trứng phục sinh bằng bánh, kẹo sôcôla

Thế kỷ VIII, người ta đã thấy những quả trứng phục sinh ban đầu dùng để tặng nhau nhân ngày lễ này. Trứng sau khi luộc chín, được nhuộm màu và vẽ lên những hình những hình vẽ tuỳ ý. Tuy nhiên, tục này mới xuất hiện chưa trở nên phổ biến. Từ thế kỷ XII, hầu như các nước châu Âu theo Thiên Chúa giáo (kể cả Công giáo và Chính Thống giáo) đều lấy trứng là một biểu tượng cho ngày Lễ mừng Chúa sống lại. Ngày lễ Phục sinh tại Paris vào thế kỷ thứ XIII, các linh mục và các sinh viên đại học và thanh niên nhóm họp với nhau nơi các công trường, tạo thành đoàn diễn hành có kèn có trống rồi vô nhà thờ để hát, xong họ tản mác khắp mọi nơi trên các đường phố để tìm trứng Phục sinh.

Trứng phục sinh vẽ trang trí nghệ thuật

Hiện nay, những hình thức của quả trứng đã có nhiều thay đổi. Ngoài những quả trứng thật được tô vẽ và nhuộm màu như xưa, còn có thêm những quả trứng khác như trứng sôcôla cho trẻ em. Sôcôla được làm nóng lên khoảng 50 độ rồi cho vào khuôn đúc. Sau đó lấy ra và vẽ hình tùy ý. Các hãng làm sôcôla hiện nay đã sản xuất ra trứng sôcôla với nhiều kích cỡ và nhiều màu sắc cũng như hình vẽ nhằm phục vụ khách hàng. Ngòai ra còn có thêm những trò chơi trứng. Trẻ em nhân ngày lễ Phục sinh sẽ được dẫn đến những khu vườn hoặc những khu rừng dành cho lễ hội. Trứng được giấu trong các bụi cây, dưới những đám cỏ… để cho trẻ em đi tìm. Ngoài ra còn có những quả trứng bằng nhựa dẻo, trong đó có một quà tặng như giá trị của một quyển sách, một món hàng ở siêu thị…

Trứng phục sinh được làm quà và giấu trong vườn, đám cỏ... cho trẻ em đi tìm

Những quả trứng gà sau khi luộc chín được trang trí bằng nhiều màu sắc sặc sỡ với những ý nghĩa đẹp: màu đỏ tượng trưng cho may mắn, màu xanh cho hy vọng, sự trẻ trung, trong sáng, màu vàng cho sự khôn ngoan, màu trắng cho thanh bạch, màu cam cho sức mạnh,...
Hình ảnh trứng phục sinh ngày càng đa dạng dưới nhiều kiểu mẫu khác nhau thể hiện tính sáng tạo và sự tỉ mỉ, công phu từ đơn giản có thể làm trong bếp đến cầu kỳ như một nghệ thuật truyền thống, bao gồm cả kỹ thuật khéo léo và công nghệ sản xuất.
Những hình ảnh thú vị của quả trứng phục sinh toát lên môt hình ảnh thật đẹp: con Người đã chết và đã phục sinh; cái chết của Đức Giêsu và sự Phục sinh của Người như là một lời hứa cho nhân loại: Tất cả chúng ta cũng phải chết và sẽ được sống lại như Ngài nơi Thiên Quốc.

Trứng phục sinh được bày sắp xếp đậm chất nghệ thuật

Suốt từ 1895 đến 1917, Nga hòang Alexandre III và sau đó là Nicolas II đã đặt trứng phục sinh để tặng cho hòang hậu và Nicolas còn đặt thêm một quả để tặng cho mẹ. Tổng cộng Fabergé đã chế tạo được bằng phương pháp thủ công 66 quả trứng. Mỗi quả trứng là một tuyệt tác nghệ thuật.. Một trong số đó là quả trứng Mùa đông do Nicholas II tặng cho mẹ của ông – bà Maria. Được gắn 3.000 viên kim cương, quả trứng này đã được bán với giá 5,6 triệu USD vào năm 1994 và được bán lại tám năm sau với giá 9,6 triệu USD. Quả trứng đăng quang chứa bản sao chính xác chiếc xe ngựa của Nga hoàng cùng bánh xe quay của nó. Quả trứng mô tả thu nhỏ đường xe lửa xuyên Siberia. Nó được chế tác vào năm 1900 để kỷ niệm sự kiện hoàn thành việc xây dựng tuyến đường này.


Những quả trứng phục sinh được chế tác từ vàng, bạc, sứ, đá quý,... bởi những người thợ kim hoàn tài ba, đặc biệt là Peter Carl Fabergé, đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng và được lưu giữ trong các viện bảo tàng.

Gẫm lễ Đèn (15 cuộc thương khó của Chúa Giêsu)


Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Hãy hôn kính các vết thương cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu và cảm tạ Người

Sáng Thứ Tư Tuần Thánh 16-4-2014 Đức Thánh Cha Phanxicô đã có buổi tiếp kiến chung hằng tuần, với sự tham dự của rất đông tín hữu và du khách hành hương tuốn vế Roma để dự các lễ nghi Tam Nhật Tuần Thánh.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài giáo lý ”Con đường lột bỏ của Chúa Kitô”. Ngài nói: Anh chị em thân mến, vào giữa Tuần Thánh phụng vụ giới thiệu với chúng ta trình thuật sự phản bội của Giuđa, là người đã đến tìm các thủ lãnh của Hội Đồng Do thái để trả giá và giao nộp Thầy mình cho họ. ”Các ông cho tôi bao nhiêu để tôi nộp Người cho các ông?” Và từ lúc đó Đức Giêsu có một giá.


Cử chỉ thê thảm này ghi dấu sự khởi đầu cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô, một lộ trình đau đớn mà Người lựa chọn với sự tự do hoàn toàn. Chính Người đã nói lên điều đó: ”Tôi trao ban sự sống mình… Không ai lấy đi được mạng sống của Tôi: nhưng chính Tôi hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10,17-18). Và con đường sự hạ mình, của sự lột bỏ bắt đầu với vụ phản bội ấy. Đức Giêsu… như thể ở trong chợ: ”Cái này giá 30 đồng… ” Và Đức Giêsu bước đi trên con đường của sự khiêm hạ và lột bỏ đó cho tới cùng.

Một khi đã bước đi trên con đường của sự hạ mình và lột bỏ, Chúa Giêsu đi đến cùng. Chúa Giêsu đạt tới sự khiêm hạ hoàn toàn với ”cái chết trên thập giá”. Đây là cái chết tệ hại nhất dành cho các nô lệ và các tội phạm. Chúa Giêsu đã được coi như một ngôn sứ, nhưng chết như một kẻ tội phạm. Khi nhìn Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn của Người, chúng ta thấy như trong một tấm gương các nỗi khổ đau của nhân loại và tìm thấy câu trả lời thiên linh cho mầu nhiệm của sự dữ, khổ đau, và cái chết.

Biết bao lần chúng ta cảm thấy kinh hoàng đối với sự dữ và khổ đau bao quanh chúng ta và chúng ta tự hỏi: ”Tại sao Thiên Chúa lại cho phép điều đó xảy ra?”. Đây là một vết thương sâu đậm đối với chúng ta, khi thấy nỗi khổ đau và cái chết, đặc biệt là cái chết của những người vô tội. Khi chúng ta thấy các trẻ em đau khổ, nó là một vết thương trong tim. Nó là một mầu nhiệm. Và Đức Giêsu nhận lấy tất cả sự dữ ấy, tất cả nỗi khổ đau này trên mình. Trong tuần này thật là điều tốt cho tất cả chúng ta nhìn vào Chúa bị đóng đanh, hôn các vết thương của Chúa Giêsu, hôn chúng nơi Chúa bị đóng đanh. Người đã nhận và mang lấy tất cả nỗi khổ đau của con người.

Chúng ta chờ đợi Thiên Chúa đánh bại bất công, sự dữ, tội lỗi và khổ đau trong tự toàn quyền của Người và với một chiến thắng vẻ vang. Trái lại Thiên Chúa cho chúng ta thấy một chiến thắng khiêm tốn, xem ra là một thất bại trong tâm thức của loài người. Và chúng ta có thể nói rằng: Thiên Chúa chiến thắng trong thất bại.

Thật thế, trên thập giá Con Thiên Chúa xem ra là một người thất bại: đau khổ, bị phản bội, bị khinh miệt và sau cùng chết đi. Nhưng Đức Giêsu cho phép sự dữ bám riết lấy Người và mang lấy nó trên mình để chiến thắng nó. Cuộc khổ nạn của Người không phải là một tai nạn; cái chết của Người, cái chết ấy đã được ”ghi chép”. Đây là một mầu nhiệm gây lạc hướng, mầu nhiệm sự khiêm hạ lớn lao của Thiên Chúa, nhưng chúng ta biết bí mật của mầu nhiệm này, của sự khiêm hạ ngoại thường này: ”Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến độ trao ban Con Một mình cho thế gian” (Ga 3,16). Trong tuần này chúng ta nghĩ biết bao tới nỗi khổ đau của Chúa Giêsu và chúng ta tự nhủ: ”Đó là để cho tôi. Cả khi tôi có là người duy nhất trên trần gian này, Người cũng làm điều đó. Người đã làm điều đó cho tôi. Và chúng ta hãy hôn Đấng bị đóng đanh và nói: ”Cho con. Cám ơn Chúa Giêsu. Cho con.”

Cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu và các tước đoạt của biết bao nhiêu niềm hy vọng nhân loại là con đường chính, qua đó Thiên Chúa hoàn thành ơn cứu độ. Một con đường không tương ứng với các tiêu chuẩn nhân loại, trái lại lật ngược chúng. Bởi các vết thương của Người chúng ta được chữa lành (x. 1 Pr 2,24).

Khi tất cả mọi sự xem ra bị mất, khi không còn có ai bởi vì chúng sẽ “đánh chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26,31), thì khi đó Thiên Chúa can thiệp với quyền năng của sự sống lại.

Sự phục sinh của Đức Giêsu không phải là kết thúc tươi vui của một chuyện thần tiên đẹp đẽ, không phải là kết cục hạnh phúc của một cuốn phim, nhưng là sự can thiệp của Thiên Chúa Cha ở nơi niềm hy vọng của con người bị tan vỡ. Trong lúc khổ đau, trong đó biết bao người cảm thấy nhu cầu xuống khỏi thập giá, thì đó là lúc gần sự phục sinh nhất. Đêm xem ra tối hơn trước khi ban sáng bắt đầu, trước khi ánh sáng bắt đầu. Trong lúc đen tối nhất thì Thiên Chúa can thiệp. Người sống lại.

Đức Giêsu, Người đã lựa chọn đi qua con đường này, mời gọi chúng ta theo Người trong chính con đường của sự hạ mình. Khi trong một vài lúc của cuộc sống chúng ta không tìm thấy lối ra nào cả cho các khó khăn của chúng ta, khi chúng ta lún sâu trong sự tối tăm dầy đặc nhất, đó là lúc khiêm hạ và lột bỏ hoàn toàn của chúng ta, là giờ trong đó chúng ta sống kinh nghiệm giòn mỏng và tội lỗi. Và chính khi đó chúng ta không phải che đậy sự thất bại của chúng ta, nhưng rộng mở chính mình cho niềm hy vọng của Thiên Chúa như Đức Giêsu đã làm. Anh chị em thân mến, trong tuần này thật là thiện ích cho chúng ta cầm lấy thánh giá trên tay và hôn biết bao nhiều lần và nói: ”Lậy Chúa Giêsu, con cảm tạ Chúa”. Ước chi được như vậy.

Sáng Thứ Tư Tuần Thánh đã có khoảng 70.000 người tham dự buổi tiếp kiến. Bên cạnh các các nhóm Bắc Mỹ và Tây Âu, có các nhóm đến từ Australia, Puerto Ricco, Guatemala, Argentina, Mêhicô, Uruguay, Brasil. Đức Thánh Cha đã chúc mọi người Tam Nhật Tuần Thánh sốt sắng và tràn đầy ơn của Chúa Phục Sinh.

Trong số các nhóm được Đức Thánh Cha chào đặc biệt có một phái đoàn của tổ chức Nato Minh Ước Bắc Đại Tây Dương, các tham dự viên đại hội các sinh viên đại học về môi sinh của bản vị con người và khung cảnh sống do giáo phận Opus Dei tổ chức. Ngoài ra còn có nhiều hiệp hội, các đoàn hành hương giáo xứ, giáo phận và cộng đoàn Rumani ở Roma.

Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới Đức Thánh Cha nói ngày mai bắt đầu Tam Nhật Thánh, là trọng tâm của năm phụng vụ. Ngài cầu mong các bạn trẻ suy tư về giá máu mà Chúa Giêsu Kitô đã đổ ra cho ơn cứu chuộc của chúng ta. Đức Thánh Cha xin cuộc khổ nạn của Chúa dậy cho các người đau yếu sự kiên nhẫn trong những lúc vác thánh giá của khổ đau. Và ngài nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới làm tràn đầy gia đình họ với niềm vui của sự phục sinh.


Buổi tiếp kiến đã kết thúc vởi Kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

-Vatican Radio Tiếng Việt-

Thứ Bảy, 12 tháng 4, 2014

TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐỜI TU


Trưởng thành nói chung
Có một khái niệm về sự trưởng thành như sau:
Đó là khi tôi lớn lên, 
Tâm hồn tôi trở nên mạnh mẽ 
Để tôi can đảm đối diện cuộc đời. 

Đôi mắt tôi đủ sáng, 
Để tôi thấy đường mình đi. 
Đôi chân tôi đủ khoẻ, 
Cho tôi có thể tự bước. 

Tôi có thể chạy thật xa, 
Khi tôi gặp phải rắc rối. 
Nhưng đó đâu phải cách, 
Tôi có thể làm hoài 
Rồi tôi phải đối mặt 
“Phải”chứ không là “sẽ” 
Dù chuyện gì có xảy ra 
Trong lòng tôi sẽ được giải phóng, 
Khỏi những ưu phiền bấy lâu nay... 
Trưởng thành là vậy sao?[1]
Cách chung, trưởng thành không có nghĩa là khi chúng ta lớn lên về mặt thể xác thì đương nhiên chúng ta trưởng thành. Nhưng trưởng thành đòi hỏi cần phải có nhiều yếu tố,  ở nhiều cấp độ và trên nhiều phương diện khác nhau. Có người trưởng thành về phương diện này nhưng lại chưa trưởng thành về phương diện khác. Chẳng hạn, một người dù đã 40 tuổi nhưng không có khả năng suy luận và phán đoán, thì không thể nào nói là người đó trưởng thành. Nhưng, nếu một người cũng 40 tuổi và có khả năng phán đoán và suy luận, mà lại có một lối sống bê bối, áp dụng sai lệch những phán đoán và suy luận, thì có thể nói người đó mới trưởng thành về mặt thể lý và trí năng, song chưa thực sự trưởng thành về mặt luân lý và tinh thần. Như vậy, người trưởng thành thật sự thì cần phải trưởng thành cả về lý trí và ý chí.
Trưởng thành trong đời tu
Trước tiên, Giáo luật hiện hành đòi hỏi sự trưởng thành ở một mức độ nào đó nơi các ứng sinh trước khi bước vào nhà tập (x. Can. 642). Sự trưởng thành này sẽ giúp cho các ứng sinh đảm nhận nếp sống riêng của tu hội sau này. Tuy nhiên, sau khi khấn, người tu sĩ có trưởng thành hơn và trưởng thành tới mức độ nào là chuyện khác. Cũng vậy, xét về khía cạnh giáo luật, chỉ những tu sĩ khấn trọn mới được xem là những người trưởng thành, là thành viên chính thức của nhà dòng và có quyền để đảm nhận các chức vụ trong dòng (x. Can.623 và 651,1). Nhưng trên thực tế, các tu sĩ đã khấn trọn có thực sự trưởng thành trong đời tu về mặt tâm linh, tình cảm và đời sống cộng đoàn là chuyện khác. Do đó, trong đời sống tu trì, một tu sĩ không thể được gọi là trưởng thành nếu như họ chưa hiểu được tính chất năng động, phong phú và những mục đích thiết yếu của đời tu là gì. Cũng vậy, giống như trưởng thành ở ngoài đời, một tu sĩ dù đã biết được đâu là đặc tính và bản chất của đời sống tu trì, nhưng lại xao lãng, thiếu thiện chí để đạt tới những mục đích của đời tu, thì tu sĩ đó chưa thực sự trưởng thành trong đời tu. Do đó, một tu sĩ có thể rất trưởng thành về khía cạnh nhân loại (ngoài đời), nhưng không ắt hẳn trưởng thành về khía cạnh tu trì (trong nhà tu)[2].


Một vài dấu chỉ cho thấy một tu sĩ trưởng thành trong đời tu
Khi một người nào đó quyết định chọn bậc sống tu trì, thì cũng từ lúc này người đó phải học cách biết từ bỏ. Từ bỏ những điều – cả những điều tốt, mà không còn phù hợp với đời sống tu trì. Do đó, cần phải biện phân đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu.
Phân biệt đâu là tùy phụ và thiết yếu trong đời tu
Đời sống tu sĩ là một hành trình theo Chúa Kitô qua việc tự nguyện tuyên giữ ba Lời khuyên Phúc âm. Cho nên, sự trưởng thành tu trì cũng là một quá trình tiệm tiến. Vì thế, có thể mới đầu người tu sĩ  rất khó phân biệt đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu. Nghĩa là, thoạt đầu ta cho những điều thiết yếu là tùy phụ và ngược lại. Rồi trong thực hành, khi không đạt được những điều tùy phụ, người tu sĩ  cảm thấy xáo trộn và đau buồn nặng nề. Nhưng dần dà, nhờ ơn Chúa soi sáng, thoát khỏi não trạng tu trì trẻ con, họ có một sự trưởng thành tu trì trong việc phân biệt đâu là là điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu.
Vậy đâu là những điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu? Đó là: “Thiết yếu là phải sống sự tấn hiến cho Chúa sao cho thực hiện được mục đích của việc tận hiến ấy. Còn lợi ích và thỏa mãn cá nhân ở đời này chỉ là tùy phụ”[3].
Điều này là bởi vì, khi Chúa ban ơn gọi cho người tu sĩ và khi người tu sĩ đáp trả lại ơn gọi đó, Chúa mời gọi người tu sĩ tận hiến cho Ngài. Trong Kinh Thánh, danh từ consecratio (Latinh) có thể hiểu về hai phía: Thiên Chúa và con người. Từ phía Thiên Chúa: Ngài yêu ai đó, nên đã chọn lựa họ, dành riêng họ cho mình (xc. Gr 1,5). Từ phía con người: ý thức được tiếng gọi của Chúa, đương sự dâng hiến trót đời cho Chúa. Cho nên, trong tiếng Việt, “thánh hiến” muốn nói đến sáng khởi về phía Thiên Chúa; “tận hiến” nói đến sự đáp trả về phía con người. Do đó, không có gì cần thiết và thiết yếu hơn – đối với người đã tận hiến cho Chúa, là đạt tới mục đích của việc tận hiến. Nó vừa là ý muốn của Thiên Chúa (thánh hiến) đáp trả lại của con người qua một bậc sống dành riêng cho Chúa (tận hiến). Kinh nghiệm cho thấy sự bình thản của người tu sĩ trong đời sống tu trì tùy thuộc rất nhiều vào việc họ có thiện chí đạt tới mục đích thiết yếu này không.
Một khi người tu sĩ ý thức và có thiện chí cố gắng đạt tới mục đích thiết yếu của việc tận hiến cho Chúa, thì lúc đó những lợi ích và thỏa mãn riêng tư chỉ là thứ tùy phụ. Và vì nó chỉ là tùy phụ nên sẽ nó có vai trò thứ yếu trong đời sống tu trì. Có hay không thì không quan trọng. Chúng ta lấy ví dụ về một người tu sĩ trưởng thành về phương diện tâm linh – đây là nét nổi bật của đời sống tu trì. Trưởng thành về tâm linh là hành vi cuốn hút con người lao mình về Thiên Chúa, cố gắng hướng tầm mắt và cõi lòng về Thiên Chúa, đó chính là hành vi cao cả và sung mãn nhất của tinh thần – hành vi này chỉ đạo toàn bộ mọi sinh hoạt rộng lớn của người tu sĩ[4]. Một khi người tu sĩ trưởng thành trong chiều sâu tâm linh, thì trong mỗi thái độ hay cử chỉ của họ khi đối diện với những biến cố quan trọng cũng như trong những hoàn cảnh bình thường trong cuộc sống, họ biết sống hết mình với bổn phận của người tu sĩ, còn sự thành công, thất bại tùy thuộc vào Thiên Chúa trong niềm vui và hạnh phúc[5]. Cho nên, đối với một tu sĩ trong một dòng với căn tính là giáo dân, thì việc tiến chức linh mục không phải là điều thiết yếu nhưng cốt yếu là sống tận hiện cho Chúa qua việc chu toàn những hoạt động phù hợp với đoàn sủng và truyền thống lành mạnh của hội dòng. Vì thế sẽ là một băng hoại không nhỏ, cho chính đương sự và nhà dòng, nếu một người tu sĩ trong một dòng giáo phận, quyết tâm dùng mọi phương cách để được tiến chức linh mục. Họ xem đó như một điều thiết yếu, một đích điểm của đời tu. Đó là một hướng đi thật đáng buồn! Tuy nhiên, tu sĩ vẫn là con người với những yếu đuối và tham vọng mang tính con người, cho nên trên hành trình dâng hiến vẫn còn có lảng vảng đâu đó những danh vọng trần thế và toan tính của con người để đạt những danh vọng. Đây là một cản trở không nhỏ khiến người tu sĩ khó trưởng thành thực sự trong đời tu.
Nhận ra yêu sách chính yếu của đời tu
Như chúng ta biết một trong những đặc điểm nổi bật của người tu sĩ dòng đó là việc tuyên khấn, tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đó là: “Lời khấn tu trì khác hẳn với các lời khấn khác vì nó làm nên một đời sống đặc biệt, thực hành các lời khuyên của Phúc âm và mô phỏng hoàn hảo nhất đời sống trần gian của Chúa Giêsu và tinh thần đã phấn khích Ngài[6].
Như vậy, tuyên khấn, đây là một hành vi chứng tỏ lòng quảng đại triệt để, bởi vì trong từng giây phút của cuộc đời dâng hiến, người tu sĩ sẽ sống khoảnh khắc ấy liên tục qua dòng thời gian. Thật ra, người tu sĩ vẫn có thể hy sinh làm điều thiện và lợi ích cho tha nhân vì lòng yêu mến Chúa. Nhưng nếu chỉ dựa trên yếu tố con người thì chưa đủ. Vào những lúc khó khăn, đau buồn, chán nản trong đời tu, người tu sĩ  sẽ dễ đánh mất lòng quảng đại và thiện chí. Cho nên, yêu sách chính yếu của sự trưởng thành trong đời tu là: “Ta phải sống tân hiến cho Chúa một cách trung thành có suy luận, được ước muốn, bền vững, bình thản, được đặt trên những lý do siêu nhiên”[7] Và chỉ có những yêu sách này mới không bao giờ khuyết diện. Cho dầu mọi trở ngại, nhưng những yêu sách đó vẫn hướng dẫn và nâng đỡ người tu sĩ trong hết mọi hoàn cảnh.
Chúng ta vừa nói về sự trưởng thành trong đời tu được thể hiện qua việc phân định đâu là những điều thiết yếu và tùy phụ trong đời tu. Còn một dấu chỉ khác, cũng khá quan trọng, để chỉ cho thấy người tu sĩ trưởng thành trong đời tu: sống ba lời khuyên Phúc âm.
Dấu chỉ nổi bật và minh thị nhất là bình thản và bền vững trong việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm. Dĩ nhiên, đứng trên phương diện con người, sẽ vẫn có những thiếu sót và yếu đuối trong việc sống ba lời khấn. Nhưng với một tu sĩ trưởng thành, cho dù có gặp những khó khăn, thậm chí hy sinh trong việc tuân giữ ba lời khấn, song họ vẫn sống đời dâng hiến cách vui vẻ, bình thản và trung thành. Một cách cụ thể, với đức khó nghèo, người tu sĩ không chỉ nghiêm chỉnh sống siêu thoát, mà còn thể hiện đức khó nghèo bằng cách đi tìm những tài sản siêu nhiên ngay khi còn sống ở trên đời này. Còn về lời khấn khiết tịnh, sự trưởng thành trong đời tu thường biểu hiện qua sự trưởng thành về mặt tình cảm. Nghĩa là, người tu sĩ trưởng thành về mặt tình cảm luôn có khả năng của sự độc lập về mặt tình cảm, không lệ thuộc vào tình cảm, tức là không để tình cảm bị chi phối điều khiển bởi cảm giác, nhưng bởi lý trí và ý chí[8]. Cũng vậy, một người tu sĩ trưởng thành thực sự trong đời tu, đặc biệt về mặt tình cảm, họ sẽ biết đặt sự quân bình, hài hòa giữa cảm xúc và lý trí về những biến cố xảy ra trong đời sống tu trì. Do đó, nếu có những biến cố như: chưa được khấn trọn, chưa được thụ phong linh mục, thi rớt,..., người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ biết chấp nhận đó là những thất bại, nhận trách nhiệm là của chính mình. Ngược lại, những người thiếu trưởng thành đời tu, sẽ có những phản ứng tiêu cực như nóng nảy, trách móc, than thân trách phận,... Kế tiếp là về lời khấn tuân phục, người trưởng thành trong đời tu luôn thâm tín rằng vâng phục là thực thi ý Chúa, dù có phải hy sinh nhưng vẫn bình thản. Như chúng ta biết, lời khấn vâng phục luôn mang hai khía cạnh[9]: một khía cạnh tiêu cực và là một khía cạnh tích cực. Khía cạnh tiêu cực hệ tại ở: lời ta đoan hứa với Chúa sẽ tuân phục bề trên chính thức của Hội dòng trong tất cả những điều các vị đó truyền phù hợp vớigiáo luật và hiến pháp. Còn khía cạnh tích cực là: việc người tu sĩ tận hiến, thánh hiến cho Chúa ý chí của mình như một tài năng tác động mà có khả năng hành động lệ thuộc. Do đó, cả khả năng hành động cùng với các hành vi của nó đều được thánh hiến cho Thiên Chúa. Cho nên, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ hướng tới khía cạnh tích cực của việc tuân phục. Có như vậy, họ sẽ giữ lời khấn cách bình thản và vui vẻ, và sẽ vững vàng hơn trên con đường dâng hiến. Điều này được nói rõ sau: “Bằng việc tuyên hứa lời khấn vâng phục, các tu sĩ hiến tế Thiên Chúa ý muốn riêng mình làm hy sinht, nhờ đó họ được kết hợp mật thiết với ý chí cứu độ của Chúa một cách vững vàng”[10].
Như chúng ta biết, từ sau Công đồng Vaticanô II, các văn kiện của Tòa thánh về đời tu sĩ đều với tựa đề “De Religiosis” (religieux, religiosus). Thật ra, từ này đã xuất hiện từ thời Trung cổ, từ “religiosus” là một tính từ mà nó gắn liền với “religio” (nhân đức thờ phượng), nhằm nhấn mạnh rằng tu sĩ là hiến dâng cho Chúa qua việc phụng thờ Thiên Chúa[11]. Việc phụng thờ Thiên Chúa chỉ được thể hiện khi người tu sĩ biết sống tuân giữ kỷ luật hội dòng và bản thân cách nghiêm ngặt. Hơn thế nữa, đi theo Chúa là một hành trình, cho nên việc tuân giữ kỷ luật hội dòng và bản thân cũng phải được tuân giữ một cách đều đặn và quân bình. Do đó, một dấu chỉ khác cho thấy người tu sĩ trưởng thành trong đời tu là sống tiết độ.
Sống tiết độ
Tiết độ là (moderation) trong tiếng Anh. Tự điển Oford Advanced Leaner’s Dictionary, Oford University Press, đã định nghĩa như sau: “The quality of being reasonable and not being extreme”.Còn thế nào là một hành động “moderate”, thì cũng theo tự điển này định nghĩa như sau: “to become or make something become lessmextreme, severe, etc). Như vậy, tiết độ là một việc làm dung hòa cho có chừng mực, và tránh thái quá hoặc bất cập. Để được như vậy, ta phải kìm hãm, xa tránh những xúc cảm và thu hút, tức những kích thích từ nội tại và ngoại tại trong cuộc sống.Và như vậy, tiết độ không phải là nhân đức hay đức tính dễ làm và dễ thực hiện, bởi vì nó trực tiếp liên quan đến cả thể lý, tâm lý và tâm linh con người.
Ngoài ra, “tiết độ là đức tính luân lý giúp ta điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng chừng mực những của cải trần thế. Tiết độ giúp ý chí làm chủ các bản năng và kếm chế các ham muốn trong tiến hành chính đáng”[12]. Trong Cựu ước khen ngợi đức tiết độ như sau: “Con đừng buông theo tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dụng vọng” (Cn 18,30). Còn Tân ước gọi tiết độ là  “chừng mực” hay “điều độ”, nghĩa là chúng ta phải sống “chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2,12).
Dĩ nhiên, chúng ta không bàn tới ý nghĩa tiết độ trong Cựu ước. Vì đi tu là từ bỏ rồi, từ bỏ những danh vọng lạc thú ở đời này để tìm hạnh phúc đời sau. Ý muốn nhấn mạnh về sự tiết độ ở đây là người tu sĩ cần sống có “chừng mực”, “điều độ” trong đời tu. Sự chừng mực và điều độ này được biểu hiện qua qua rất nhiều khía cạnh như: kỷ luật, kinh nguyện, học hành, ăn uống, ngủ nghỉ,... Nhìn vào thực tế, chúng ta thấy không thiếu những tu sĩ sống không điều độ trong đời tu. Có những người học nhiều quá đến nỗi không nhớ ngày nào thi! Kết quả, cho dù học nhiều nhưng vẫn rớt. Cũng vậy, trong kinh nguyện cần có sự đều đặn hằng ngày. Cho dù, có những lúc, người tu sĩ cảm thấy chán nản không muốn bước vào nhà nguyện. Không cảm thấy hứng thú gì hết khi nguyện gẫm hay cầu nguyện với Chúa. Nhưng đối với một người tu sĩ trưởng thành, cho dù chán nản, không hứng thú với Chúa trong cầu nguyện, họ vẫn vào nhà nguyện. Họ vẫn nguyện gẫm bởi vì có thể lúc này chán Chúa, nhưng ít ra họ vẫn tuân giữ các giờ đạo đức cách đều đặn. Vì thế, có thể nói rằng, nếu một người tu sĩ thực sự trưởng thành khi họ sống có quân bình trong kỷ luật, giờ đạo đức, ăn uống, học hành và ngủ nghỉ. Ngược lại, người tu sĩ nào mà có những lúc thì qua đạo đức, đọc kinh rất sốt sắng, nhưng lại bữa có bữa không, thì có thể nói người tu sĩ đó chưa trưởng thành trong đời tu. Bởi vì người tu sĩ trưởng thành không tuân giữ kỷ luật, các giờ đạo đức theo ngẫu hứng: vui thì tuân giữ, buồn thì không. Nhưng người tu sĩ trưởng thành sẽ cố gắng tuân giữ kỷ luật ngay cả trong những lúc chản nản nhất, đau buồn nhất và một cách đều đặn.


Tạm kết
Trưởng thành không đơn giản là sự lớn lên về mặt thể chất mà là sự chín chắn từ trong nhận thức và tư tưởng. Nếu một ngày nào đó một người nào đó chợt nhận ra cuộc đời không chỉ là một màu hồng mà còn đi kèm theo nhiều gam màu khác nữa, nhưng người đó vẫn mỉm cười bước tiếp và biến những khó khăn thành cơ hội để tự hoàn thiện mình, thì lúc đó người đó đã thật sự trưởng thành rồi đấy. Đó một sự trưởng thành ngoài đời, trưởng thành về khía cạnh nhân loại.
Đời tu là một hành trình tiệm tiến đi theo Chúa trên con đường ở trần gian. Trên hành trình này ắt sẽ có những cuộc va chạm, đố kỵ mang tính con người. Do đó, trên hành trình đi theo Chúa, ngoài những những con đường chan chứa niềm vui và hạnh phúc, thì cũng có những con đường đầy bao đau khổ, cô đơn và nước mắt. Bên cạnh con đường mùa xuân với muôn màu hoa nở tươi thắm, vẫn có con đường tàn héo khô cằn của mùa hè nắng cháy. Sẽ có những lúc người tu sĩ cảm nghiệm không khí ấm áp, dễ chịu của mùa thu nhưng cũng đã phải nếm chịu cái rét giá lạnh, cô đơn khi mùa đông về trên con đường đi theo Chúa. Một cách nào đó, khi người tu sĩ nhận ra tất cả những đặc tính khác nhau trên con đường đi theo Chúa, nhưng họ vẫn bình thàn vui vẻ đón nhận và chấp nhận, thì người tu sĩ đó có thể được gọi là đã trưởng thành trong đời tu. Nhưng điều quan trọng hơn cả, người tu sĩ trưởng thành thật sự trong đời tu là khi họ biết phân biệt đâu là những điều tùy phụ và thiết yếu trong đời tu. Một khi có sự nhận thức như vậy, họ luôn luôn cố gắng đạt tới những điều thiết yếu, còn những những điều tùy phụ có hay không không quan trọng. Điều thiết yếu là tận hiện cho Chúa cách bền vững và trung thành.
Ngoài ra, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu sẽ biểu hiện ra việc bình thản và vui vẻ trong việc tuân giữa ba lời khuyên Phúc âm. Đó biểu hiện minh thị và căn bản nhất của một người tu sĩ trưởng thành. Rồi người tu sĩ trưởng thành cũng cần sống tuân giữ kỷ luật cách đều đặn, ăn uống và nghĩ ngơi có điều độ và chừng mực. Kế tiếp, người tu sĩ trưởng thành trong đời tu còn thể hiện qua mối liên hệ với bề trên, sống đức ái, đời cộng đoàn, và yêu mến tinh thần, đoàn sủng và truyền thống lành mạnh của hội dòng.
Ngày nay chúng ta đang sống trong một xã hội mà đang cần những người làm chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Với thực trạng và nhu cầu như vậy, Giáo hội mời gọi những ai theo đuổi ơn gọi tu trì cần phải nhận ra vai trò ngôn sứ của mình để dấn thân làm chứng cho tình yêu dâng hiến và loan báo Tin Mừng cách hiệu quả. Để chu toàn sứ mạng này, đòi hỏi người tu sĩ phải trưởng thành trong ơn gọi của mình, nghĩa là phải được huấn luyện về mọi khía cạnh và phương diện. Người tu sĩ cần phải được huấn luyện về khía cạnh: tri thức, tâm lý và tâm linh để họ trở thành những con người quân bình giữa ý chí và cảm xúc, vững vàng trong ơn gọi của mình, và sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm mục vụ cần thiết cho Giáo hội và xã hội. “Họ cần được giáo dục để biết yêu mến sự thật, để biết trung thành, biết kính trọng mọi người, để có ý thức công bằng, để trung thực trong lời nói, để chân thành cảm thông, để trở thành những con người nhất quán, và đặc biệt là để có sự quân bình trong phán đoán và trong thái độ ứng xử.”[13]
Thật vậy, sự trưởng thành luôn mang tính năng động thúc giục những ai theo đuổi ơn gọi tu trì hướng tới chân trời hoàn thiện. Nó không nhất thiết phát triển theo tuổi tác, mà nó biểu lộ qua sự quân bình của từng cá nhân được huấn luyện theo từng cấp độ, để có những khả năng hiểu biết và cảm ứng được sự phát triển trọn vẹn trên bình diện cảm quan, cũng như trên bình diện tri thức. Do đó, việc huấn luyện người tu sĩ trưởng thành trong đời tu là một quá trình liên tục và cả đời. Bất cứ một tu sĩ nào cũng được mời gọi tự huấn luyện mình để trở thành người tu sĩ trưởng thành trong đời tu trong mọi thời điểm.
Bertrand Nguyễn Thanh Hoài

Tài liệu tham khảo
1.     Theo Chúa Kitô.
2.     Charles Serrao, OCD. Biện Phân Ơn Gọi Tu Trì – Đào Tạo Hướng Đến Sự Thay Đổi. Bản dịch Lm. Dom. Nguyễn Đức Thông. CssR.
3.     Paolo Provera, C.M. Thánh Hiến Cuộc Đời. Bản dịch của Phạm Duy Lễ.
4.     Lm. Anrê Đỗ Xuân Quế. Sống Đời Thánh Hiến.
5.     Yves Rauin Sj. Độc Thân Ngày Nay. Chuyển Ngữ Lm. Đặng Xuân Thành.